Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản Chơn-Lư Tầm Nguyên
|
|
|
The following scripture reminds each being of his Divine Origin. This is one of the basic teaching of Cao-Đài. The King of Heaven explains the basic meanings of Life. The scripture in Vietnamese was received on 22 April 1930 through automatic writing.
Kinh Tu Chơn Thiệp Quyết được ban hành tại Kiên-Gian bởi Trung Ương Toà Thánh năm 1930. Bài Kinh nầy là bài giáng bút tại Cao-Thiên-Đàn (Rạch-Giá) đêm 24 tháng 3 năm Canh Ngũ (22 April 1930)
Tu Chơn Thiệp Quyết
Ngọc lịnh ban hành khải cửu cung, Hoàng ngôn xuân sắc, tượng ung dung, Thượng hành hạ hiệu đô công quả, Đế đạo hoằng khai chiếm thượng phong.
Cung Bạch Ngọc ngự lâm bửu tọa, Thọ chư Thần triều hạ đă yên; Thân thân giá hạnh Nam Thiên, Trước xem Tam Giáo, cháu Tiên con Rồng.
Đă đ̣i kiếp, dầy công nhọc sức, Dạy chúng sanh kỉnh Phật thờ Trời; Thương thay cũng tại số người, Ngạo lời Thánh Huấn, kỉnh lời quỉ vương.
Ḷng chẳng kể cang thường là Đạo, Dạ hằng lo hung bạo làm đầu; Thấy vầy Thầy phải nghĩ sâu, Tam Kỳ Phổ Độ nam châu phen nầy.
Lời Thầy phán rẽ mây, vén ngúc, Kinh Thầy ban chạm ngọc khảm vàng; Khác nào rọi duốc chỉ đàng, Khuyên con tạc dạ ghi xương chớ rời.
Sách chép chữ: khôi khôi Thiên vỏng, Đời ghi câu: lọng lọng lưới giăng; Nhặc thưa mau chậm cân phân, Mựa rằng sơ sót, mắt Thần không sai.
Thầy đă dạy, nhiều bài vàng đá, Con nỡ đành chẳng dạ sắc đinh; Con hư, Thầy phụ chẳng đành, Con nên, Thầy được phỉ t́nh ước ao.
Đời hằng nói: Trời cao có mắt, Sách thường biên: Thái-Nhứt vô h́nh; Minh mông, đồ sộ, rộng thinh, Ma soi xét đủ t́nh h́nh thế gian.
Đây giáng bút ít hàng vắn tắc, Đang trao lời vuông tấc nhiệm mầu; Chớ rằng: chẳng tiếng cao sâu, Khuyên thường giử dạ, mựa hầu sai ngoa.
Ơn cúc dục: công Cha nghĩa Mẹ, Đức sanh thành: nuôi lớn dạy khôn; Tục rằng: cây cội nước nguồn, Cây xanh, nhờ có nước luôn tư mùa.
Cùng bạn tác, không dua không nịnh, Với anh em, đừng phỉnh đừng phờ; Thấy người quyền quí đừng mơ, Gặp người hoạn nạn, chớ lơ lăng ḷng.
Đạo quân tử, vợ chồng gây mối, Mối can thường, ḍng dơi trổ nên; Một ḷng một dạ vửng bền, Sớm khuya dạy bảo, nhủ khuyên ngọt ngào.
T́nh máu mủ, đồng bào cốt nhục, Cũng rúng nhao, một cục xắn chia; Đừng toan chước quỉ phân ĺa, Ở cho hoà nhă, tiếng bia danh đồn.
Đạo thần tử, lo tṛn phận sự, Nghĩa tôi con, nắm giữ thân danh; Sao cho công toại danh thành, Sao cho muôn thuở, sử xanh tên đề.
Cân Tạo Hoá nhiều bề mắc mỏ, Máy Kiền Khôn hiếm chổ cam go; Nước đời sâu chóng, cạn ḍ, Đừng chơi biển thẳm, chớ ṃ lạch khơi.
Thần Tiên đă bày lời trung chánh, Thánh Hiền c̣n thêm gánh nghĩa nhơn; Thương đời chẳng biết công ơn, Chê bai thấp thỏi, chờn vờn cầu cao.
Muốn đặng ngọc, th́ vào non thẩm, Muốn t́m vàng, phải ngấm biển sâu; Muốn cho phú quí công hầu, Th́ tua gắng chí dăi dầu tuyết sương.
Ai cũng muốn Tây-Phương lạy Phật, Sao không lo Thánh-Thất chầu Thầy; V́ con, Thầy mới đến đây, Cạn phân lợi hại, tỏ bày thiệt hơn.
Phải tích đức, tu nhơn làm trước, Lo tu thân, tác phước cho cần; Trên đầu có Thánh, có Thần, Có Trời, có Phật cầm cân chẳng lầm.
Đừng tưởng chỗ tố tăm chẳng thấy, Chớ tưởng đều phải quấy không soi; Có câu: “khuynh phúc tài bồi”, Nước sông rong kém, máy Trời vần xây.
Vần Nhựt Nguyệt đêm ngày soi xét, Lẽ âm dương hàng nhiệt giao thông; Có câu: Thiên Địa chí công, Họa dâm, phước thiện, mảy lông chẳng chừa.
Đừng tưởng lấy vải thưa che Thánh, Chớ tưởng dùng sức mạnh qua Trời; Đáng thương mà cũng đáng cười, V́ ḷng kiêu ngạo dể ngươi Cao Đày.
Ḷng bất nhẫn, thêm bày ít đoạn, Dạ từ bi, phụ giảng vài bài; Khuyên con tạc dạ chớ sai, Khuyên con chớ thấy dong dài bỏ qua.
Nên xa tránh dâm tà sắc dục, Hư thanh danh, điếm nhục tổ tông; Hại nầy thiệt hại vô cùng, Phật Trời chẳng chúc thứ dung tội nầy.
V́ kiếp trước, dẫy đầy âm chất, Sa mê dâm, phước đức tiêu ṃn; Hại ḿnh, hại vợ, hại con, Hại luôn sự nghiệp, hại dồn đời sau.
Chước quỉ quái, ḷng sâu dạ độc, Kế tinh yêu, nước đục béo c̣; Lập mưu thả lưới, giăng ḍ, Hại người lương thiện, ấm no thân ḿnh.
Người cậy thế khôn lanh xảo trá, Trời dành phương nhơn quả trả vay; Phủi tay chẳng kíp th́ chầy, Reo cười chưa thỏa, xin mày không cơm.
Đành búng rẫy, ngày đơm tháng giỗ, Nỡ phụ phàn, chim tổ, người tông; Ỷ ḿnh đủ cánh đủ lông, Quên ơn Cha Mẹ, phủi công Ông Bà.
Tội bất hiếu, phui pha đâu có, Chử vô tư, tỏ rơ phải không? Kiếm đao, địa ngục song song, Đem vào trước dạy, vở ḷng phanh gan.
Chủ lường gạt buôn gian bán lận, Tớ gian tham lời chận, lỗ thêm; Miếng mồi chuốc ngót cho êm, Lường công tiếc việc, dao ghim đầy ḷng.
Phường sâu độc, toan pḥng ngọt mật, Tánh cưu mang, như bắt giết ruồi; Mưu sâu gẩm lại than ôi, Hồiđầu báo ứng, kêu Trời muộn thay.
Ngày chí tối, pho bày nanh vút, Sớm cùng trưa, xúi giục kiện thưa; Xiết bao kế lận, mưu lừa, Ôm gồm hai phía, đơng đưa đôi đàng.
Cậy quyền thế, tham quan ô lại, Gỉa xưng hô quí phái cao môn; Líu lo ba tất lưởi ḍn, Đă thâu của báu, lại ḅn đồ xưa.
Giọt thán oán như mưa thấy thảm, Tiếng bi ai dường sấm bên tai; Sóng cho vạn ách, thiên tai, Thát cho kiếp kiếp, đầu thai bồi thường.
Dối Thần Phật, gạt lường tế độ, Phỉnh chúng sanh, tu bổ chùa chuyền; Trọng tăng, kỉnh Phật thiêng liêng, Ḷng thành dưng cúng, bạc tiền sá chi.
Nghề đồng cốt, khinh khi Tiên bụt, Nghiệp bóng chàng đàn đột hư vô; Xác ông, xác cậu, xác cô, Dưng chay, cúng mặn, thế đồ vớt vong.
Chẳng hiểu chữ: sắc không, không sắc, Chẳng thông câu: không có, có không; Giam vào vô để lao ḷng, Chờ ngày: phán đoán đại đồng thế gian.
Kẽ bợ đỡ, mua quan, bán bạn, Tánh nịnh lừa, gỉa dạn, cầu thân; Cũng phường mọt nước, sâu dân, Phú cho địa ngục, trầm luân giam cầm.
Phô những lũ, t́m tâm ích kỷ, Khắp các phường, tính kế hại người; Hại người, ḿnh lại vui cười, Hỏa khanh địa ngục, đốt đời chẳng dung.
Răn đệ tử: chớ dùng rượu thịt, Khuyên chúng sanh: ráng ít chơi bời; Sắc tài tữu khí hao hơi, Gắng công tu niệm, thờ Trời tụng kinh.
Lời Thầy phán, phải tin phải tưởng, Lời Thầy răn, chớ cượng chớ sai; Tu cho rạng tiếng Cao Đài, Cha hiền, con thảo, trai ngây, gái lành.
Trối những kẻ khinh danh Đạo cả, Thây các phường thóa mạ khi Thầy; Khoe khoan kiêu ngạo, đặt bày, Đền xong tội thế, đến ngày gặp Ta.
Đều biếng nhác, bởi già nghiệp chướng, Tánh tru tŕ, khó hưởng thanh hàn; Khuyên con, giữ dạ bền gan, Ḷng lo tu niệm, Thiên Đàng mau lên.
Mảng những ước thành Tiên, thành Thánh, Mà quên lo tu Tánh, tu Thân; Tu cho bồi đấp thiện căn, Tu cho trung, hiếu, nghĩa, nhơn vẹn tuyền.
Tu, là cứu Cửu Huyền Thất Tổ, Tu, là cần phổ độ chúng sanh; Cầu cho cải dữ, về lành, Cầu cho đất nước thái b́nh muôn năm.
Tu cho được Thần khâm quỉ phục, Tu cho nên thoát tục, siêu phàm; Công danh, quyền quí, tước hàm, Mây tan, nước chảy mà ham nổi ǵ?
Thế thường nói: tu chi cho nhọc, Để mà lo: tước lọc công hầu; Sao không suy trước nghiệm sau, Tiền căn, hậu quả, bởi sao được vầy?
Phân nắng bón, th́ cây mới tốt, Rễ thường tươi, th́ đọt mới xanh; Muốn cho cả cội sung nhành, Tu hành lo trước, sau đành thảnh thơi.
Thầy thương xót, nguồi nguồi kẻ dại, Muốn thành công, mà lại ngao du; Phật mang tám nạn, cũng tu, Thầy c̣n muôn kiếp, công phu giăi dầu.
Ai dẩu được công hầu khanh tướng, Mà không lo tiếp dưởng, tài bồi; Gốc cây, sùng đục đă rồi, Không trông nức mục, nẩy chồi, đơm bông.
Tu phước đức bền ḷng cho lắm, Tên quỉ vương hay nhắm người tu; Mủi tên đă đọc lại mau, Ghim nhầm một mủi, khó hầu gỡ ra.
Tên nó sấm nhũng là: rượu bọt, Tên nó giồi: gái tốt vàng ṛng; Muôn ngàn tên đọc vô cùng, Vương nhầm một mủi, th́ không c̣n hồn.
Tu th́ chớ bôn chôn nóng năơy, Tu th́ cho phải quấy, phân minh; Chánh, tà, chơn, ngụy được rành, Phật Trời mới chứng cho ḿnh rằng tu.
Tu cho được: phụ từ tử hiếu, Tu cho thành: huynh hửu đệ cung; Gái tu: tú đức, tam tùng, Trai tu: nhơn nghĩa hiếu trung làm đầu.
Thế tưởng vậy, là tu Nhơn Đạo, Nào hay rằng: Thiên Đạo bởi đây; Chẳng lo Nhơn Đạo cho dầy, Mong thành Thiên Đạo, mặc may làm ǵ?
Phật đă dạy, tam qui, ngủ giới, Đời chẳng tuân, đẻ hại ngươn thần; Bởi thương nên mới phân trần, V́ thương nên mới ân cần nhủ khuyên.
Một, khuyên phải kiền thiền mộ Đạo, Hai, tuân lời Tam Giáo Thánh Nhơn; Đạo là chí chánh chí chơn, Những lời Thánh Huấn, chạm xương ghi ḷng.
Ba, khuyên nhớ Tổ Tông công đức, Bốn, lo tu đúng bục cang thường; Cha sanh, Thầy dạy kỹ cương, Anh em bạn tác, náo nương vợ chồng.
Năm, khuyên nhớ kẽ nông công khó, Sáu, xót thương công phụ nhọc nhằn; Cày sâu cấy cạn bón phân, Làm nên tơ chỉ trăm phần lao đao.
Bẩy, liên lạc, đồng bào huynh đệ, Tám, khuyên đừng dua mỵ quyền môn; Sao cho tiếng ngợi danh đồn, Đáng trang đạo đức, phải tôn, phải v́.
Chính, khuyên chớ khinh khi cô quă, Mười, khuyên tua hỉ xă lỗi người; Khuyên đừng biết giận hờn ai, Xót người hoạn nạn, cứu nơi cơ hàn.
Được vậy, mới gọi trang tu Tánh, Tánh tu rồi, mới Định tu Tâm; Càng tu, càng thấy cao thâm, Càng tu, càng thấy sự lầm lạc xưa.
Biết lầm lỗi, th́ chừa cho gấp, Đặng mau lo bồi đấp cội lành; Như vầy: mới gọi tu hành, Như vầy: mới gọi chứng minh bồ đề.
Khuyên con phải kiên dè cho lắm, Mười lời khuyên như tẩm cam lồ; Đêm ngày dầu tụng nam mô, Mà không noi giử, nhành khô rể c̣i.
Mừng con đặng có ṃi tấn phát, Rưới cho con nước mát, mùi thơm; Bốn mùa, hoa nỡ trái đơm, Hơi bay bát ngát, nhụy tươm ngọt ngào.
KỆ RẰNG:
Giáng cơ chỉ rơ máy Kiền Khôn, Ghi chép vài trang sách Thánh Ngôn, Luân lư, cang thường nên că cội, Nghĩa nhơn, trung hiếu vốn sâu nguồn. Thành chơn, phước bởi công vô lượng, Đắc Đạo, ơn nhờ Đức Chí Tôn. Khuyên nhủ các con tua gắng chí, Tam kỳ muôn thuỡ tiếng bia đồn.
Tiếng bia đồn để ức muôn năm, Khuyên thế đừng tu đọc hiểm tâm. Thầm tối, mưu gài chong lểu lểu, Cao xanh lưới bủa, dạn tâm tâm. Vô thường chẳng sợ tay oanh liệt, Quỉ tốt nào kiên bực phẩm hàm. Thiện ác đáo đầu vay có trả, Hoàng Thiêng hủu nhăn chắc không lầm.
Chắc không lầm, lổi tiếng mười khuyên, Th́ được tên đề bản Địa Tiên, Muốn hưỡng lâu dài nền hậu quả, Phải lo bồi đấp cănh tiền duyên. Làm lành lánh dữ câu thành ngữ, Tốt đất sung nhành lẽ tự nhiên. Chí dóc siêu phàm, lên cơi Thánh, Phải lo vun tưới, miếng Tâm-điền.
CÁC CON !
Thầy dạy bài Tu Chơn Thiệp Quyết nầy là chỉ đường ngây lẽ chánh cho các con đi, nẽo vậy thói tà cho các con sửa. Trong lúc Thầy truyền Đạo đây, th́ chư Thần Tiên ủng hộ theo Thầy; tường vân che phủ, thoại khí bao quanh, lại có Văn-Xướng Đế Quân ghi chép vào Kim-Thơ Ngọc Sách, hầu để vào “Toàn Kinh Bửu Viện”. Ba bài Kệ các con phải giủ dạ nằm ḷng, ngày đêm truyền tụng chớ khá bỏ qua; v́ tụng kinh nầy đây th́ “Tứ Trị Công Tào Sứ Giả” thẩy hằng nghe mà biên chép công quả. Thầy dạy Bổn Mạng Ngươn Thần của mổi con xét coi trong luc rănh rang có trau giồi Đạo Đức như lời Thầy phán chăng ? Các con hăy nghe, chớ rằng Thầy không nói trước.
Lời nào Thầy đă dỉ hơi ra, Vàng, ngọc, ǵn trau chớ bỏ qua, Cung kỉnh, ấy là nền Đạo Đức, Kiêu căng, vốn thiệt gốc yêu tà. Ngươn Thần chiếu mạng người trung chánh, Nghiệp chướng tŕ chơn đứa xảo ngoa. Đừng tưởng Trời cao, mà giả dối, Mắt Thần như chớp, khó phui pha.
CÁC CON !
Như có người nào ở ngoài ṿng cửa mà muốn cho rỏ mùi Đạo Lư của Thầy, th́ các con cũng nên xét và dạy chúng nó bài “Thiệp Quyết” nầy.
Khuyên đời bỏ dử, đặng theo lành, Ấy cũng là điều giúp chúng sanh, Tiên, tục, thấp, cao, lời giác đác, Nên hư, chỉ rỏ, tiếng đành rành. Thiện duyên yếu mối, năng thưa thót, Nghiệp chướng già cay, khó rấp ranh, Vững lái êm chèo, thuyền tế độ, Đưa ngươi đến bến, mựa cành nanh.
Đàn tại Kiên-Giang đêm 24 tháng 4 Năm Canh Ngọ ( 1930 )
Tu Chơn Thiệp QuyếtKinh in PDF format (Use Acrobat Reader)
|
Send e- mail to thanknguyen@hotmail.com with comments about this web site.
|