Thể đặng Huyền-Cơ cậy Tánh Linh,
Liêng đài vững trải bước tiền tŕnh,
Tiên phàm Trời chẳng chia đôi bực,
Nữ nữ nam nam cũng
Đạo Sinh.
1
Trời mở Đạo dạy người thoát tục,
Trời nào cho đống ngục nhốt người;
Trời cho người tỉnh biết Trời,
Trời cho người biết đặng người t́m phăn.
2
Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,
Trời khuyên người, ráng tạo quả nhơn;
Trời khuyên công quả chớ sờn,
Trời khuyên phải nhớ bốn ơn chớ rời.
3
Trời đă dạy nhớ Trời-Độc-Nhứt,
Trời khuyên người tuyệt dứt phàm tâm;
Trời khuyên ráng học ráng làm,
Trời khuyên người chớ tin xàm tưởng vơ.
4
Trời thường dạy biết bờ biết bến,
Trời thường khuyên chớ mến bụi hồng;
Trời khuyên một dạ một ḷng,
Trời khuyên phải sợ Chí-Công Luật Trời.
5
Trời sẵn có ngự nơi Tâm đó,
Trời chẳng cho dứt bỏ con Trời;
Bỏ Trời là tánh phàm đời,
Bỏ Trời nên mới dể ngươi Cao-Đài.
6
Trời xem thấy chẳng sai phân tấc,
Trời là Ngôi Độc-Nhứt nơi Tâm;
Trời khuyên người chớ tưởng lầm,
Trời khuyên người chớ vọng tâm vọng cầu.
7
Trời cứu khắp toàn cầu thế-giái,
Trời nào cho ai căi lịnh Trời;
Căi Trời th́ vướng lưới Trời,
Căi Trời phải chịu đời đời trầm luân.
8
Trời đă phú Chơn -Thần cho trẻ,
Trời nào cho chia rẽ Ta Người;
Trời ban Linh-Điển không hai,
Trời cho có Một, Một Ngai Một Thần.
9
Trời đă phú Điển-Ân cứu trẻ,
Trời thương người bê trễ công tŕnh;
Trời thương Trời dạy đinh ninh,
Trời khuyên sống thác cũng nh́n Chơn-Thân.
10
Trời chẳng tạo bánh luân xa nọ,
Trời đâu làm chỗ trọ cho người;
Trời khuyên người phải giúp Trời,
Trời đâu có bảo Ta Người xa nhau.
11
Trời thường nhắc năm châu vốn một,
Trời thường khuyên thương ruột người;
Trời rằng người đó là Trời,
Trời khuyên chớ tưởng xa với cách sông.
12
Trời đă sắm Chủ-Ông săn-sóc,
Trời thường khuyên phải đọc kinh Trời;
Trời thương Trời dạy ráo lời,
Trời khuyên người chớ đành rời-rạt Cha.
13
Trời vốn một th́ Ta cũng một,
Trời có đâu miệng thốt sai lời;
Trời cho xuống kiếp giúp Trời,
Trời rằng trọn thảo đời đời an vui.
14
Trời để mắt xét đời chẳng lọt,
Trời có đâu sơ sót phân hào;
Trời tuy vọi vọi rằng cao,
Trời thường săn-sóc trước sau chẳng rời.
15
Trời ngự tại Một Ngôi trong sạch,
Trời có đâu xa cách mà lầm;
Trời khuyên Nhứt-Đức Nhứt-Tâm,
Trời soi chẳng khác trăng rầm đêm khuya.
16
Trời răn chớ ḷng chia phe đảng,
Trời chỉ cho chổ Sáng là Trời;
Trời nêu Đuốc Tuệ rạng ngời,
Trời nêu Đuốc Tuệ nơi nơi phải nh́n.
17
Trời thương khắp thương-sinh lạc bước,
Trời mói ban ngọn Đuốc Lư-Chơn;
Trời thường chỉ vạch nẻo trơn,
Trời khuyên chớ lóng giọng đờn quỉ-ma.
18
Trời đă dạy Người Ta phải Hiệp,
Trời thường răn bỏ nghiệp đảo lừa;
Trời khuyên nghiệp quấy ráng chừa,
Trời khuyên biết sớm biết trưa biết chiều.
19
Trời khuyên biết bao nhiêu lời ngọc,
Trời thường khuyên phải đọc phải t́m;
Trời khuyên Trời dạy tất tim,
Trời khuyên Trời dạy cổ kim một lời.
20
Trời dạy biết Một Trời Chúa Tể,
Trời khuyên người phải kể lời khuyên;
Trời khuyên Tâm Tánh phải bền,
Trời rằng Tâm Tánh là nền Chơn-Tu.
21
Trời đă nói trí ngu phân biệt,
Trời thương người chẳng biết biện phân;
Trời khuyên Trời dạy ân-cần,
Trời khuyên tưởng đến Chơn-Thân của người.
22
Trời đă dạy nhiều lời vàng đá,
Trời dứt khuyên Bản-Ngả phải chừa;
Trời khuyên chớ gọi sớm trưa,
Trời khuyên chớ nuối kiếp xưa quên Trời.
23
Trời dạy Đạo tùy thời biến diệc,
Trời chẳng cho mài miệt bụi trần;
Trời tay cầm sẵn Luật cân,
Trời khuyên chớ để ăn năn Đại-Đồng.
24
Trời khuyên nhớ Tổ-Tông công đức,
Trời đă khuyên nhựt nhựt mỗi tân;
Trời răn việc quấy th́ đừng,
Trời răn lưỡi mối miệng lằn chớ mê.
25
Trời nào đếm câu thề vô dụng,
Trời sanh người Trời cũng biết người;
Trời khuyên người phải biết Trời,
Trời khuyên người phải nhớ lời Trời khuyên.
26
Trời sắm sẵn một miền Bạch-Ngọc,
Trời dành cho người dọc kinh Trời;
Trời đâu có dạ phụ người,
Trời thương những kẻ tơi-bời lăng-xăng.
27
Trời thương trẻ lựa lần than-thở,
Trời một ḷng che chở con Trời;
Trời thương con dạy khắp nơi,
Trời thương con dại coi Trời như không.
28
Trời thương trẻ đứa rồng đứa rắn,
Trời thương cho lúc bẳn mực Công;
Trời thuơng Trời dạy tất ḷng,
Trời thương Trời mở lượng hồng nhủ khuyên.
29
Trời khuyên chớ đảo điên tất dạ,
Trời khuyên đừng xảo trá qua Trời;
Trời khuyên chớ cậy già lời,
Trời khuyên Trời chỉ phải nơi mà về.
30
Trời trông trẻ ngày kề Bạch-Ngọc,
Trời mới ban Hồng phúc Tam-Kỳ;
Trời khuyên chớ lộn thau ch́,
Trời khuyên nh́n chỗ Trời qui mà về.
31
Trời đă nói Tiểu-Nhi Tạo-Hóa,
Trời nào cho đạo tả môn bàn;
Trời thương Trời dạy Trời than,
Trời thương càng lắm người càng ngổ-ngan.
32
Trời nay chỉ rơ đàng cội gốc,
Trời khuyên người Thận-Độc Chơn-Thân;
Trời ban mỗi trẻ đủ Thần,
Trời cho biết cội biết căn mà nh́n.
33
Trời đă chỉ Ngọc-Kinh là Đó,
Trời thường khuyên biết Có biết Không;
Trời khuyên sống thác Một ḷng,
Trời khuyên phải nhớ Chí-Công là Trời.
Lời dặn: Mỗi vế phải mỗi lạy.
Bài Tam-Thập Tam-Thiên được thông dụng trong cả các lễ, dầu cho cầu-an,
cầu-bịnh, hoặc trong các giờ rảnh, lúc tang-sự từ đầu đến chót, đến mảng tang,
lúc nào khuya sớm đều được dùng nó mà đọc, ví chẳng khác như Kinh Di-Đà của
Phật vậy.

Bài
Giảng Kinh Tam Thập Tam Thiên
Vế 1
Trời mở Đạo dạy người thoát tục,
Trời nào cho đống ngục nhốt người;
Trời cho người tỉnh
biết Trời,
Trời cho người biết đặng người t́m phăn.
Từ khi có Trời Đất có loài Người đến nay, Đạo của Trời dạy đă khắp nơi
rồi chẳng phải là ít, chẳng phải là không có, đâu đâu cũng đều dạy một cách,
là dạy loài người phải thương nhau, sách
vở Thánh Hiền Tiên Thánh để lại biết bao nhiêu. Kinh kệ của các vị Phật các vị
Tổ cũng truyền bá khắp nơi, nào c̣n thiếu thốn chi nửa,mà đến đỗi Trời nay c̣n
phải bổn thân giáng phàm đặng khai Đạo Kỳ Ba nầy, nơi cơi hồng-lạc nầy, là cơi
nhỏ nhen thấp hèn hơn cả mọi nơi vậy? Vậy chớ Trời khai Đạo như vậy có ích chi
cho Trời hay không? Có ích lợi chi cho Người hay không, mà đến đổi Trời phải
nhọc công như thế? Chúng ta là người học Đạo, cần nhứt là phải t́m kiếm cho ra
cái Mục-Đích của Trời mở Đạo đây cho thấy
rơ, th́ mới có thể biết Đạo là chi, rồi mới thương Thầy mến Thầy, quí Đạo
trọng Đạo, bằng chẳng t́m xét cho ra Lư, th́ là tu giởn tu chơi vậy thôi chớ
nào phải là ngườ chơn tu đâu.
Muốn t́m kiếm cho ra ḷng Trời thế nào th́ chẳng cần phải kiếm đâu cho
xa lạ, hảy do nơi Thánh huấn của Thầy th́ thấy rơ. V́ Thánh huấn chẳng có một
việc chi mà Thầy hay là chư Tiên chư Thánh giấu giếm chúng ta. Thánh huấn của
Thầy và của chư Tiên Thánh, chúng ta gọi rằng cao xa khó hiểu nên hay bỏ qua
hoài, hoặc là đọc cho có chừng, hoặc là v́ Lịnh Trên dạy, phải làm luận-văn
đặng trau-đổi ư-kiến, nên chúng ta phải làm cho có chừng mà nạp cho khỏi bị
trách cứ, hoặc là đổ thừa thế nầy thế kia đặng tránh trốn, chớ c̣n Thánh huấn
của Ngôi Chị là dễ hiểu dễ t́m hơn hết, sao chúng ta đành nỡ bo qua mà chẳng
xét cho ra cho thấy, đặng t́m coi Mục-Đích của Trời mở Đạo đặng làm chi? Nếu
có công t́m th́ thấy rơ ràng, ḱa Ngôi Chị đă nói rơ ràng như vậy:
Trời mở Đạo dạy người thoát tục,
Trời nào cho đống ngục nhốt người;
Trời cho người tỉnh
biết Trời,
Trời cho người biết đặng người t́m phăn.
Ngôi Chị đă nói rơ ràng câu ấy nơi bài Kinh Tam Thập Tam Thiên rồi, tại
chúng ta mảng vọng Tâm vọng cầu nơi chỗ cao xa mà quên do nơi nấc than dưới mà
bước trước cho vững vàng, cứ vội ngón vội ngó nơi chót vót từng lầu cao mà hụt
chơn sái bước hoài.
Sao chúng ta chẳng xét lại coi cho kỹ-lưỡng, coi cái mà chúng ta tự bấy
lâu nay gọi là Đạo đó, chẳng luận là Đạo Trời, Đạo Phật, Đạo Tiên hay là Đạo
Thánh chi chi, những Đạo ấy, dạy chúng ta những chi? Có phải là mỗi phe, mỗi
Đạo, nỗi tôn-giáo, mỗi chi, mỗi phái nào, họ cũng mượng tên Trời Phật Thánh
Thần đặng rùng ép chúng ta, đặng ngăn đón chúng ta rằng phải tùng theo giáo-lư
của họ th́ được về Thiên-Đường, th́ được về tịnh thổ, th́ được về Tây Phương,
th́ được thành Tiên thành Thánh hay không? Họ chỉ biết dùng cách dối gạt rằng
hễ muốn tùng theo giáo-lư của họ th́ phải cứ một ḷng tin-tưởng nơi họ, họ có
đủ sức cầu Trời khẩn Phật giùm cho, đặng cho thoát khỏi những tội lổi chi chi
của chúng ta, chẳng cần chi phải lao-công nhọc sức làm ǵ, cứ việc làm ăn như
thường, miểng là cho có bạc tiền đem dưng cúng cho họ là đủ rồi, bằng chẳng
vậy, bằng chẳng chịu tín-ngưỡng theo tôn-chỉ của họ dạy, th́ phải bị sa-đọa
vào 18 từng địa-ngục, 72 cửa ngục sửa phạt khốn khổ vô cùng. Họ lại c̣n bày
h́nh ghê-gớm đặng cho chúng ta thấy mà dùng ḿnh rởn óc nữa. Chúng ta nào có
biết chi đâu, hễ ai nói đến Trời Phật th́ chúng ta tin, chúng ta lạy, là v́
ḷng chúng ta đă tín ngưỡng Trời Phật đă lâu rồi, từ đời nào chí bây giờ chớ
chẳng phải là một kiếp nầy mà thôi, v́ vậy nên nay thấy ai là người bề-ngoài
có vẽ từ-bi th́ chúng ta tôn kính chúng ta sùng bái, gọi mấy vị ấy là
cao-tăng, đại-đức tu hành, c̣n chúng ta tự hạ ḿnh chúng ta xuống mà tự gọi là
chúng ta phàm-phu tục-tử, nên mới phải làm cho hết ḷng đặng tỏ dấu kỉnh Phật
th́ phải trọng tăng chớ nào có biết chi nửa mà nói mà xét, có ai dạy ai chỉ
Đạo là chi đâu mà biết.
Chúng ta mấy đời mấy kiếp
mắc mưu bị kế quá rồi, v́ vậy nên động ḷng Trời, mà cũng v́ sự tin-tưởng
không chánh đáng ấy nên phải sa vào tả-đạo bàn-môn, nên không hiểu căn-cội
của ḿnh là từ Trời mà xuống, Trời là Cha
Chung cho cả thế-gian. Cha khắp cả nhơn-sanh, ai biểu ḿnh quên
Cha Thật của ḿnh đó chi, nên mới phải bị bọn
giả dối lường gạt được, mà vẩn tin tưởng bọn kia là thần thánh c̣m ḿnh là
phàm là tục nên nó mới rù quến được đó. Trời v́ động mối thương tâm, nên Trời
mới mở Đạo Kỳ Ba nầy, nơi cơi Hồng-Lạc đây, là chỗ ngu muội mê hoặc hơn hết,
đặng Trời dạy cho chúng ta cổi cái lốt gọi la lốt phàm lốt tục đó đi, đặng
nh́n đặng nhớ lại rằng ḿnh là con ruột của Trời đó, đừng để cho ai phỉnh phờ
gạt-gẫm nửa được mà quên nơi quê cảnh xinh đẹp của ḿnh đi.
Bởi Trời thấy tự bấy nay,
bọn tả-đạo bàn-môn kia, bọn dối Trời dối Phật kia, cứ đem những việc luân-hồi
quả-báo mà gạt-gẫm chúng ta một cách trái Đạo-Lư, không chỉ cho chúng ta biết
Chơn-Lư chánh đáng là thể nào, cứ vẫn dạy chúng ta cúng tiền bạc gọi là cúng
chùa lạy tăng goị là trọng Phật vậy là đủ, nếu chúng ta chẵn làm vậy th́ bị
luân-hồi, phải bi trầm-luân sa vào địa-ngục không ai cứu cho. Cũng v́ sợ sa
vào địa-ngục không ai cứu, mà cũng v́ ham mê thiên-đường nên mới dầm sương dầm
nắng, cực khổ chẳng kể, hoặc là làm nhiều việc trái ngược Đạo-Lư mà cũng không
cần, miểng là cho có tiền có bạc đặng đem hối-lộ cho mấy người gọi là thay mặt
Trời Phật ấy, là cho họ độ rỗi linh-hồn của ḿnh cho khỏi bị giam-cầm nơi 72
cửa rạt, trong ṿng 18 từng địa-ngục đó thôi, v́ ỷ y họ có quyền phép và có
nhiều vị Thần Thánh tùng quyền của họ sai khiến nên họ cứu ḿnh nỗi.
Chớ nào chúng ta có hay biết chi rằng chúng ta đều là
Người của Trời sai đế mở-mang khắp cơi hồng hoang giúp tay Bàn-Cổ Tam-Hoàng
lập công đâu. Bởi chúng ta đă chẳng làm tṛn phận-sự mà ngày nay
cũng c̣n mê sa ma quỉ lả-lơi, bỏ điều minh-thệ với Trời mà không biết hồi đầu
qui-hướng đặng ăn-năng tội-lổi với Trời, lại c̣n đem ḷng tin cậy nơi đâu, bảo
sao không đời đời kiếp kiếp ở hoài nơi trên mặt đất nầy hoài mà vùi mà vấp cái
xác thân mê-muội nầy hoài; mảng tưởng 72 cửa rạt kia, 18 từng địa-ngục nọ là ở
đâu đâu dưới cái đất nẻ, có quỉ-sứ nhăn nanh lố vút, có vạc dầu sôi thiệt, có
kiếm thọ đao sơn (chổ ḥn núi có cấm gươm chôm chởm đặng quăn thây người vào
đó cho gươm giáo đâm lủng tim lủng phổi mà trị tội) , có nhiều nữa, nhiều nữa,
72 chỗ độc-ác vô-cùng, vỉ tưởng vậy mà quên rằng cửa
ngục ấy đều ở tại dương-gian đây, ai không làm xong phận-sự giúp Trời th́ phải
bị đời đời ở hoài nơi hồng-trần mà phơi nắng dầm mưa, cái mưa nắng
nó cháy da phỏng tráng chúng ta đó, cùng là những sự thật, chỉ vợ yếu con thơ,
nợ nần đau ốm nó cắn rứt chúng ta đó bằng biết bao nhiêu lần đau thương hơn là
đao-sơn kiếm thọ, hơn là vặc dầu sôi. Tại ḿnh quên Trời th́ ḿnh phải chịu
lao-đao lận-đận trăm điều cắn rứt như banh da bách thịt, đứt ruột đứt gan mà
không hay, lại đổ-thứa nơi đâu xa lạ. Cũng v́ bọn tả-đạo không cho chúng ta
biết Chơn-Lư đặng chúng ta hồi-hướng, lại đổ-thừa rằng v́ không theo giáo-lư
của chúng nó nên phải bị kiếp kiếp ở hoài nơi cơi diêm-phù đề nầy, cơi Nam
Thiệm bộ châu nầy, nên phải bi luân-hồi khổ năo hoài, chớ chi theo giáo-lư của
họ th́ đă được về Tây-Phương lạc quốc rồi, sao chúng ta không tự xét lấy ḿnh,
những cái ngục mà nhốt chúng ta đó, là tự chúng ta
tạo nó ra, hễ chúng ta tạo ra rồi, th́ chúng ta theo mà coi chừng
coi đổi, phải theo mà giữ mà ǵn, chớ để cho ai coi cho bây giờ. Vậy th́ những
cảnh đoạn-trường đó, những cái ngục nhốt chúng ta đó, đều do nơi chúng ta tin
xàm tưởng vơ mà gây dựng nên biết bao nhiêu kiếp rồi, càng lâu ngày chừng nào
th́ những nền, những móng, những lầu đài kia càng to càng tác nó nhốt ta
thâm-thẫm khaông c̣n thấy mặt trời mặt trăng chi nữa, chớ c̣n trông ǵ mà về
với Trời đặng, chớ có ai mà cứu vớt chúng ta được đâu.
Ngục ấy là ngục tự ḿnh làm rồi tự ḿnh đóng cửa mà nhốt
lấy ḿnh đó thôi, chớ Trời có cho ai đóng nhốt ḿnh đâu.
V́ vậy nên Trời mới mở Đạo
Kỳ Ba nầy đặng dạy cho ḿnh tự ḿnh giải thoát lấy, cổi cho hết những món phàm
tục đặng ra khỏi ngục-thất kia đó thôi. Mà muốn cho thoát th́ phải tỉnh mà
nghe lời mới được. Trời rất thương chúng ta, v́ chúng ta là con của Trời, nên
Trời thấy chúng ta đă lâu đời v́ mê tín nên phải bị luân-hồi khổ-hăi mà mắc
vào lưới Trời rồi không về với Trời được.
Bởi bọn tả-đạo bàn-môn
thấy chúng ta dốt nát quê mùa không thông Chơn-Lư nên không về với Trời được,
rồi chúng nó đặt điều ngục nầy ngục kia đặng dọa-nạt chúng ta phải sùng phụng
nó, v́ vậy Trời thương xót chúng ta đă quá nỗi mê-muội rồi, nên Trời phải mở
Đạo mà chỉ cho chúng ta biết Chơn-Lư Đại-Đạo mà tự
ḿnh cứu lấy ḿnh mà thôi, chớ Trời nào có cho ai lập ngục thất mà
nhốt lấy ai mà phạt đâu. Hăy tự tỉnh nghe mà hiểu đặng t́m phăn cho thấy.
Trời mở
Đạo dạy người thoát tục,
Trời nào cho đống ngục nhốt người;
Trời cho người tỉnh
biết Trời,
Trời cho người biết đặng người t́m phăn.
Tôi đă giải cho trước rằng v́ tại nơi các người bán Trời bán Phật kia
gạt-gẫm anh em chị em đă dư mấy kiếp rồi, rằng là hễ tuân theo giáo-lư của họ
th́ được về thiên-đường, bằng căi họ th́ sẽ bị sa địa-ngục. Sao chúng ta quá
khờ lắm vậy, sao chúng ta chẳng xét coi họ cũng là người như ḿnh vậy, họ cũng
là cha mẹ sanh đẻ như ḿnh vậy, mà sao họ có tài ǵ mà cứu chuộc tội lổi cho
ḿnh được? Sao họ lại có được nhiềi vị Thần Thánh cho họ sai khiến đặng họ cậy
phải đem nhiều lời họ xin mà trao lại cho Trời Phật đặng tha tội lổi cho ḿnh
và cứu ḿnh cho khỏi sa địa-ngục? Mà những vị Thần Thánh của họ sai khiến đó
là ai đâu ḿnh có thấy không? Hay là cũng là đồ h́nh nộm, đồ h́nh gỗ, giấy vẽ
của thợ mă bông; cũng là đồ in trong giấy tiền người thế kia mà họ đem ra đặng
gạt chúng ta đó mà họ đặt tên rằng ông nầy ông kia? C̣n Trời Phật nào đâu
không biết, mà h́nh nộm nầy người thế kia, lại đem giấy tờ của họ đi mà chuộc
tội lổi của ḿnh đây? Có phải là họ bán Trời bán Phật ở đâu mà ḿnh đây chịu
gạt hay không? Có phải họ là một bọn đặt mối thầy kiện, mà thầy kiện ở đâu
không biết thông ngôn, thầy kiện ở đâu không hay, mà mảng ḿnh nghe tên ông
thầy kiện đó hay giỏi rồi ḿnh trao bạc không cho tên đem mối mà ḿnh không
hay không biết coi mặt mày ông thầy kiện có ừ hử ǵ hay không?
Người thế-gian v́ sao mà
phải mướn thầy kiện? Là v́ sợ có tội nên phải mướn người bào chữa cho ḿnh.
Nếu có tội th́ là ai xử? Quan ṭa xử. Biết sợ có quan ṭa xử, nên phải mướn
thầy kiện căi lẽ, mà sao không đến tận mặt thầy kiện để bàn tính, lại nghe lời
bợm đào mối nọ hâm dọa rằng phải bị án nầy, luật kia, rồi trao tiền cậy cho nó
mướn thầy kiện giùm cho? Mà thầy kiện kia là ai? Là người thuộc luật đó. Luật
của ai làm?
Luật của phép nước làm ra để trao cho quan ṭa coi lấy đó mà xử những
người nào có phạm vào đó th́ phạt, c̣n ai không phạm th́ thôi. Vậy th́ Ṭa xử
là xử ai có phạm luật ḱa chớ, c̣n nếu người không phạm luật th́ Ṭa nào có xử
phạt chi đâu. Bằng người vô tội mà có kẻ nào xưng ḿnh là thông ngôn trạng-sư,
hay là thông ngôn Ṭa đến nói ḿnh rằng là có tội, bảo phải chạy tiền chạy bạc
đem nạp cho họ đặng hó mướng trạng-sư căi hộ cho khỏi tội, vậy th́ ḿnh có
nghe lời họ hay không? Nếu nghe lời họ là ḿnh là đúa ngu. Phải bắt quách nó
đem nạp cho Ṭa trị tội nó mới phải, chớ có đâu lại c̣n làm đầu đảng đem mối
giùm cho nó mà có bà con ḿnh cũng phải nạp tiền cho nó nữa? Mà trạng-sư đâu
không thấy, quan toà đâu cũng không hay, hỏi ở đời có ai ngu si mê muội đến
bực đó hay không? Huống chi Nhơn-Loại là con cái của
Trời, Luật Trời là chí-công vô-tư, Trời sai chúng ta xuống phàm gian trao giồi
Tâm Tánh giúp Trời hành Đạo, giúp tay Bàn Cỗ Tam Hoàng lập công
đặng lập xong danh phận Tam Tài, vậy th́ nếu chúng ta
làm xong trách nhiệm th́ trở về hớn hở nơi Ngọc Kinh, bằng làm chưa
tṛn trách-nhậm, th́ phải đời đời kiếp kiếp ở phàm trần hoài, ấy là bị Luật
Trời phạt đó. Luật Trời đă phạt ai là người chẳng tuân Luật Trời, th́ nó nào
có cần phải đem mối mướn tạng-sư, Thần Phật nào căi lẽ được không? Nếu Trời
cho Thần Phật nào căi lẽ tâu rỗi giùm cho ḿnh, th́ chẳng là Trời ham hối lộ
hay sao?
Thần Phật kia cũng ham hối lộ cho nhiều, nên sấm bọn tả-đạo bàn-môn làm
thông ngôn đem mối hay sao? Có lư nào vậy hay không? Ở dưới Trời nầy có ai qua
Trời được hay không? Có Thần Tiên Phật Thánh nào qua Trời hay không? Huống chi
Thần Tiên Phật Thánh cũng là chúng ta đây.
Mà ma quỉ tinh yêu cũng là chúng ta đây,
vậy th́ chúng ta c̣n cần phải nghe lời bọn dắt mối nào nửa, mà đi lo lót với
ai cho được.
Bởi chúng ta đă lâu đời xa
Trời quá rồi, nên bị bọn tả-đạo kia giả-dối gạt-gẫm, rồi nó lại tự xưng rằng
tổ của nó lại c̣n lớn hơn Trời nữa, nê hễ có đem hối lộ cho nó đặng cho nó
nộp, nó thế cho tổ nó, th́ khỏi tội, bằng không th́ bị hạ ngục trầm luân, mà
chúng ta cũng tin càng đi vậy, v́ vậy mà Cha chúng ta là Trời đó mới mở Đạo Kỳ
Ba nầy mà giải thoát cho chúng ta, nói rằng: Trời
không có cho phép ai đống một cái ngục nào mà nhốt con cái của Trời hết, đừng
nói chi tới 72 cửa, 18 từng. Trời để cho
có một cơi Hồng Quan kia đặng lập công đó thôi; hễ ai lập xong công-quả rồi
th́ về với Trời, bằng lập chưa xong th́ phải bị ở đó hoài, ở nơi chỗ lửa nóng,
nước sôi đó hoài, th́ chịu lấy, chớ Trời không có cho ai đóng ngục
nào nữa hết thảy. Trời bảo phải cho thoát kiếp mà về với Trời mà thôi.
Đă biết rằng Trời là chí-công vô-tư, c̣n bọn tả-đạo th́ lại dối gạt,
dọa hẩm chúng ta hoài, v́ vậy nên Trời Phải mở Đạo đặng thức tỉnh chúng ta,
làm cho chúng ta thức tỉnh lại, cho tỉnh cái giấc mê dư muôn kiếp nầy, mê-mang
hoài mà quên Trời là Cha rất yêu dấu của chúng ta đó. Đạo Trời mở Kỳ Ba nầy có
bao nhiêu đó mà thôi.
Đạo mở ra đặng kêu tỉnh chúng ta
dậy đừng mê mẫn, mê hoặc, mê mang, mê mụi nữa, phải thức dậy mà nh́n mà coi,
coi cái chỗ hồng-trần nầy có phải là quê xưa cảnh cũ hay
không, mà sao chúng ta cứ ngả-ngớn vui chơi nơi đây hoài, đành quên cả
sự-nghiệp chức-vụ lớn lao nơi Ngọc-Kinh đi, đành nh́n-nhận bọn bán Trời
kia là lớn hơn Cha ruột của ḿnh, đành đem Thân ngọc-ngà châu-báo nầy là Thân
của Trời sấm cho, mà làm nô-lệ cho kẻ phá danh Trời mà vui mà vẻ mà gọi rằng
là Đạo-Đức. Hăy thức-tỉnh dậy mà nh́nh lại Trời cho biết, hăy thức-tỉnh dậy
cho tỉnh táo mà nh́n lại Trời là Cha, là Cha rất yêu quí mà về với Cha. Có
thức-tỉnh mới có nh́n mà biết được, bằng mê-mang sợ-sệt lừ-đừ hoài th́ làm sao
mà nh́n mà biết được. Song le Trời muốn cho ḿnh tỉnh th́ Trời nào có kêu gọi
rằng ḿnh là người quá mê-muội rồi được đâu, nên Trời phải ban thánh-huấn ra
đặng kêu gọi cho có người thức-tỉnh trước đặng thức-tỉnh ḿnh lại, v́
Linh-Hồn là Con Một, song có kẻ bị Thần-Hồn
quá mê mà làm cho tối tâm, có kẻ Linh-Quang c̣n sàng-suốt nên đặng Trời
thức-tỉnh cho mau, cho sớm hơn, đặng Trời dạy trước, v́ là con của thầy tuy có
đứa cuồng ngông mê-muội dạy dột mặc dầu, chớ cũng vẫn có đứa thông-minh
sáng-láng dễ ăn dễ dạy, chớ có lẽ nào không đâu.
Linh-Hồn vốn có một đứa tỉnh được rồi th́ các đứa kia dễ bề tỉnh hơn,
như anh em đồng ngủ với nhau một chỗ, hễ có một đứa tỉnh trước được rồi th́
kêu gọi thứ-giấc nhau dễ hơn là ông chủ kêu. Mà Trời kêu tỉnh ta đây đặng làm
việc ǵ? Có chi lạ đâu, Trời kêu tỉnh ta đây đặng dạy
chúng ta cho biết Chơn-Lư đó thôi, v́
Chơn-Lư có Một, Đạo cũng có Một, Trời cũng có Một, chúng ta là Con
cái của Trời cũng có Một mà thôi, có cần phải mướn trạng-sư kẻ đem mối nào ở
đâu xa mà giả-dối xưng là Thánh Thần Tiên Phật nào nữa đặng gạt-gẫm con cái
của Trời đặn đâu. Chúng ta đây là Con của Trời, là
Một với Trời, là Thánh Thần Tiên Phật hiện tại ở thế-gian đây, sao
tự ḿnh quá mê-muội mà quên Trời đi? Cứ nhớ Đất hoài? Cứ nhớ quỉ hoài? V́ vậy
nên ma quỉ mới gạt được đó. Trời thức-tỉnh ta đậy dặng
dạy cái Một đó. Cái Một đó là Một Căn,
Một Cội, Một Nguồn với Trời đó, là Chơn-Lư đó. Hăy nh́n cho biết
Trời, hăy tỉnh mà nhớ Trời, th́ về với Trời được, đừng cậy ai, mướn ai, lạy ai
cứu ḿnh được đâu.
Mà ai Chơn-Lư rơ sâu,
Th́ được về chầu Bạch-Ngọc cao ngôi
là vậy đó.
Trời đă thương nhơn loại quá ư mê-mộng nên Trời đă cho có người sáng
láng thông minh thức tỉnh trước rồi đặng chỉ trước cho biết đường đi nước bước
cho biết Trời là đâu, Đạo là thế nào, Chơn-Lư là làm sao, đặng kêu gào
thức-tỉnh chúng ta dậy cho sớm rồi, vậy th́ chúng ta tuy chẳng phải là đồng
thức một lượt, song le sự thức, sự tỉnh, sự biết của chúng ta ngày nay đây
cũng là nhờ Trời mới được, nhờ Trời mới có, nhờ Trời mới nên, vậy th́ chúng ta
phải biết Trời, ấy là Trời cho chúng ta biết Trời có vậy. Hễ đă tỉnh dậy rồi,
th́ chúng ta phải làm làm sao gọi là biết? Cho khỏi mang cái lốt tục nữa? Cho
khỏi c̣n bị kẻ giả dối phờ-phỉnh gạt-lường lần nữa? Cho đặng gọi là con của
Trời; đừng để cho mang tiếng là con hư lây xấu đến Cha.
Chẳng có chi lạ hơn nữa,
là nếu chúng ta chẳng chịu thức, chẳng chịu tỉnh mà thôi, bằng chúng ta chịu
thức, chịu tỉnh , chịu nh́n nhận cho biết Trời, chịu nh́n nhận biết có Một
Trời là Cha, biết có Một Trời là Chúa-Tể cả kiền-khôn thế-giái, biết có Một
Trời là Ngôi Độc-Nhứt vô nhị, biết có Một Trời là Đấng cầm quyền thưởng phạt
chí-công vô-tư , biết có Một Trời là vô-lượng vô-biên, khoan-hồng độ-lượng,
vô-thỉ vô-chung, biết có Một Trời là Đấng đă ban Linh-Quang cho chúng ta xuống
thế-gian nầy đặng thay thế cho Ngài. Biết sợ có Một Trời là Đấng rất thương
yêu chúng ta, vậy th́ chúng ta phải cho tṛn trách-nhậm của chúng ta mà đối
đăi lại với Ngài, mà trả ơn cho Ngài, mà đền đáp công ơn của Ngài, mà làm cho
xong công việc của Ngài giao phó, v́ chúng ta đều là tôi tớ của Ngài, là người
tá-canh của Ngài hết thảy, chúng ta chớ kêu-ngạo, chúng ta chớ ỷ ḿnh chúng
ta, chớ khoe-khoan, chúng ta chớ gọi xác thân nầy là của chúng ta riêng, chúng
ta chớ tưởng sự vinh-hoa phú-quí giàu sang nầy là của chúng ta tạo ra được,
chúng ta chớ tưởng rằng con cái tôi tớ trong nhà của chúng ta mướn đó là của
chúng ta mướn, mỗi mỗi sự vật chi của chúng ta có đây, chúng ta chớ tưởng là
của riêng của chúng ta mà lầm, ấy là của Trời sấm, của Trời cho, của Trời ban
phú cho chúng ta hết thảy đó, cho tới cái Linh-Hồn
chúng ta có nên mới biết khôn biết dại, biết phải biết quấy, biết lo biết lắng
làm ăn đây cũng là Trời cho hết thảy, đừng gọi riêng của ḿnh mà
lầm, Trời muốn cho hay Trời muốn lấy lại đều do nơi quyền hành của trời hết
hảy.
Vậy th́ chúng ta phải
biết:
Biết Trời do nơi Thánh-Huấn của Trời đă thương đả dạy, đă chỉ biểu, đă
nói cạn lẽ rồi, do theo đó mà t́m cho ra từ câu, từ
tiếng, từ chữ cho hiểu nghĩa lư, rồi phải theo sự hiểu, sự biết của ḿnh mà
làm cho trúng ư Trời dạy, ấy là trúng Chơn-Lư
đó. Hễ nhầm Chơn-Lư th́ gặp
được Đạo, gặp được Đạo là gặp
được Trời, gặp
được Trời nơi Tâm trước, rồi mới có thể
làm Thánh Thần Tiên Phật được. Phải t́m ra
Mối Chánh mà làm ấy là con Trời gập được Trời
rồi vậy. Người biết Trời đó.
*
* *
Vế thứ 2
Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,
Trời khuyên người, ráng tạo quả nhơn;
Trời khuyên công quả chớ
sờn,
Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời.
Chúng ta đă hiểu v́ ư chi Trời mỡ Đạo Kỳ-Ba nầy cho cơi Nam Thiệm Bộ
Châu nầy rồi, và chúng ta cũng đă hiểu rằng Trời cho người tỉnh đặng biết Trời
mà chỉ dạy lại chúng ta, d́u dắt lại chúng ta cho biết Trời và Chơn-Lư, là Đạo
chánh của Trời, chỉ bảo chúng ta khỏi luồn ma ách nó cám dỗ chúng ta mê mụi
hoài, và Tời bảo chúng ta hễ đă biết Trời rồi, th́ phải do nơi biết ấy mà ḍ,
mà t́m mà kiếm, mà phăn cho ra mối khỏi c̣n sai lạc nơi đườn tà nẻo vạy nửa.
Trời đă chỉ như vậy rồi mà trời c̣n e chúng ta không biết các mối chánh
ở đâu mà t́m, mà phăn, nên Trời lại c̣n chỉ cho chúng ta như vậy nữa: hễ gọi
là con của Trời rồi, chịu nh́n nhận Trời là Cha rồi th́ phải tuân, phải giữ,
phải noi theo đường Đạo mà đi cho trúng đường. Chúng ta nếu ai muốn biết Đạo
là chi, th́ hăy dọc đi đọc lại bài Thánh-huấn của Đức Phù-Hựu th́ hiểu rơ Đạo
là chi.
Đạo có phải là chi đâu xa lạ mà không hiểu, song le ai có duyên muốn
t́m Đạo như lời Đức Phù Hựu đă dạy th́ mới thấy rơ không lầm không lạc, Đức
Phù Hựu đă nói rằng: "Đạo của Trời lập ra dạy đời chẳng khác nào con Đường của
vua đấp. Vua đấp đường là vụ cho dân biết đường mà đi cho đến chỗ đô thành của
vua đă lập ra cho dân tựu-tập th́ chỗ ấy là chỗ chánh. Hễ ai biết nhằm con
đường phải của vua đấp ra đó, th́ đi nhầm chỗ của ḿnh muốn đến, đi đến rồi
th́ phải tuân theo luật-lệ của vua mà ở, phải giữ-ǵn sự trật-tự của người
thay mặt cho nhà vua cai-trị, th́ lo chi chẳng đặng b́nh-an tấn-phát".
Lời dạy của Đức Phù Hựu đă chỉ cho chúng ta ngó thấy rơ-ràng trước mắt
rồi đó. Đạo là cái đường đi, tỷ như cái đường đi của nhà vua cho phép đấp, cho
phép tựu-tập lại mà làm gia trụ, miểng là phải tuân luật lịnh cai-trị của
người thay mặt nhà vua mà ăn ở cho có trật-tự th́ là trúng luật, th́ đặng
b́nh-an tấn-phát, v́ hễ ai trái với luật nước là sái
với Luật Trời, mà Luật Trời tức nhiên là Luật Đạo vậy. Vậy th́ ngày
nay chúng ta có duyên t́m Đạo th́ hăy chọn coi chỗ nào có lịnh vua cho phép
tựu-tập lại đặng giảng Đạo-lư, chỗ chánh của Trời đó, th́ hăy đến mà lập
gia-trụ đặng làm ăn cho trúng Đạo, có đến nơi ấy mà t́m phăn, th́ mới biết Đạo
Trời là chi, đặng tuân theo mà giữ cho kỹ-lưỡng; v́ chỗ ấy Trời đă dạy cho
người tỉnh rồi, th́ nương theo người tỉnh ấy mà theo th́ nào có lạc bao giờ.
Đức Phù Hựu cũng đă nói rằng: "Chúng ta, đường Đạo th́ ngày nay nghe
nói chớ chưa thấy, có ai tuy thấy được chút ít, song chơn chưa bước đến được
tới thềm, vậy th́ làm sao mà biết được".
Nếu chúng ta chưa biết được th́ hăy tin cậy nơi người đă biết đặng
d́u-dắt chúng ta chớ có chi đâu. Bằng chúng ta chẳng chịu nương theo người
biết, vẫn cứ tự ỷ ḿnh gọi rằng biết, rồi bước ra đường đi một ḿnh, thử coi
đến chừng sai lạc rồi trách ai được.
Đức Phù Hựu cũng đă dạy rằng: "Hễ người nào muốn xuất thân ra đi đường,
th́ trước hết phải cho có người thạo đường d́u-dắt cho th́ đi mới trúng, cũng
đừng quá tin nơi ḿnh biết coi nơi địa-đồ, hoặc tin nơi mấy tấm thẻ dẫn lộ mà
đi càn, nếu bị kẻ gian ngọt mật giết ruồi đánh lừa mà thâu hết vốn liến, đến
chừng biết được th́ ăn-năn không kịp, chừng ấy mới tỉnh lại tiếc v́ lúc trước
ra đường ỷ ḿnh là người thông-minh, không cần người dẫn lối, tiếc như vậy có
ích chi chăng?"
Cái vốn-liến xác-thịt nầy th́ là tiền bạc nhà cửa ruộng đất, nếu bị
chúng gạt th́ chúng thâu chúng giựt hết vốn-liến của chúng ta là v́ chúng ta
đi lạc, đi sái trên con đường đời.
Nay chúng ta đi trên con đường Đạo mà chúng ta chẳng chịu tuân theo
người đă thức tỉnh rồi, chúng ta ỷ ḿnh là thông minh nên chẳng cần ai chỉ lối
dẫn đường cho, cứ cho rằng tu là ăn chay niệm Phật vậy là đủ, hay là cứ đọc
kinh xem sách mà làm theo cũng được, chẳng cần ai chỉ dẫn làm ǵ, làm vậy hoài
th́ nào có chi đâu mà gọi rằng lạc, mà gọi rằng hết vốn liến? Nhà ḿnh mà ḿnh
lạc nỗi chi? Tiền bạc ḿnh ḿnh cất kỹ, có ai giựt được đâu mà hết vốn? Có ai
cho ai vay hỏi ǵ đâu mà sợ chúng giựt mà gọi rằng là lạc đó. Lạc hoài, lạc
đường đă mấy trăm kiếp rồi mà cũng c̣n chưa tỉnh, mà vẫn theo miếng cũ cứ đó
mà căi hoài. Giám hỏi: Vậy chớ chúng ta ở đâu mà đi đến đây? Đi đến đây làm
chi mà không chịu trở về xứ sở? Cứ bịnh rịnh trên mặt đất nầy hoài? Tôi từng
nghe mấy ông bà lớp xưa nói rằng: Sanh kư tử qui - Sống
gởi thác về, ai ai cũng gọi vậy hoài, mà sao thấy lẩn bẩn ở hoài dây, ở
hoài trên cơi hồng-trần nầy, cho đến ông bà cha mẹ chúng ta, người nào qua đời
rồi th́ cũng c̣n xẩn bẩn c̣n ở đó với chúng ta hoài, nên chúng ta cứ cúng cơm
đơm quả, ai đau ốm th́ cúng lạy vái vang nồi chè, bữa giỗ, cơm canh, rượu
thịt, cho họ ăn hoài, mà sao lại nói rằng về? Phải về được quê kiển rồi th́
sao c̣n đ̣i ăn đó? Sao ḿnh c̣n đây? Có phải là miệng nói sống gởi thác về,
nhừng mà v́ quên đường về nên c̣n ở đây hay không? Phải về quê kiển được rồi
th́ không c̣n đ̣i chúng ta nữa, mà chúng ta cũng phải cúng kiến mấy vị trước
bằng cơm canh là đồ ăn xác thân nầy nữa.
Cớ chi mà lạc vậy?
Là quên ḿnh là con của Trời. Cứ
tưởng ḿnh nầy là ḿnh nên chẳng cần ai thức-tỉnh chỉ-dẫn cho là đi về, tự
ḿnh ỷ khôn rồi ra đường phải lạc.
Lạc rồi quây về, đáo lại chỗ cũ là trên mặt đất nầy nữa, đáo đi đáo lại
nhiều lần chừng nào, th́ Linh Hồn càng phải tối tâm, mù mịch chừng nấy.
Luân hồi nhiều kiếp, ngu si càng nhiều, hóa
ra cái vốn của Thầy ban khi xưa đă hết mà đến chết, tay không cũng vẫn tay
không, như vậy chẳng phải là lạc, chẳng phải là mất vốn hay sao? Ấy là tại ỷ
khôn, ỷ lanh, ỷ giỏi chẳng cần ai chỉ lối đem đường, mà dẫu cho có muốn có
người chỉ dẫn cho nữa, là cứ nghe theo bọn ngọt mật chết ruồi kia, nó rù nó
quến giọng quyển giọng đời mà thôi, chớ nào có nghe theo đường chánh lẻ ngay
mà chịu nh́n ḿnh là con của Trời đâu, cứ gọi ḿnh là kẻ đày đọa giam cầm
trong 72 cửa ngục, nên phải nhờ cậy bọn kia vái van cho mới được tiêu được rỗi
mà thôi.
Cho đến ngày nay cũng c̣n nhiều người cũng vẫn tin tưởng như vậy hoài,
v́ vậy nên Trời mới nhắc cho chúng ta rằng: "Trời
khuyên nhủ người tuân theo Đạo" là vậy đó. Hễ
tuân theo Đạo rồi th́ phải chọn con đường nào chánh đáng của Trời lập mà vào,
phải coi chỗ nào của Trời qui mà đến. Lời nào của Thầy dạy phải nghe, hễ nghe
th́ phải ráng nghe cho rành, nghe rồi liền phải thi hành, thi hành th́ chớ căi
canh méo tṛn, được vậy mới là tuân theo Đạo cho.
Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,
Trời khuyên người, ráng tạo quả nhơn;
Trời khuyên công quả chớ
sờn,
Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời.
Chúng ta đă biết Đạo, đă biết chỗ của Thầy qui rồi, chẳng c̣ dám căi
canh méo tṛn nữa rồi, như vậy chắc được về Bạch Ngọc Kinh của Thầy hay không?
Nếu chắc về được sao c̣n thấy dạy cầu siêu cầu hồn
lăng-xăng đó. Nếu không chắc về được với Thầy, vậy th́ Thầy qui chúng
ta về làm chi cho mất sự làm ăn? Để cho chúng ta ở theo đường đời, lo cho có
danh có lợi, có tiền bạc của cải cho nhiều, dầu có bề ǵ đi nữa th́ mượn người
rổi người cầu cho, được hay không nào có chắc ǵ đâu, mà cái đời sống nầy lại
được thong-thả sung-sướng, hơn là đi về với Đạo, đi về tại chỗ Thầy qui, tuân
theo Đạo không dám căi, mà c̣n phải lôi-thôi không chắc ǵ hết, v́ c̣n phải
cầu siêu, cầu hồn lăng-xăng như thế tục vậy? Vậy th́ nào có ích chi cho chúng
ta đâu? Chẳng có ích chi lại c̣n ép buộc phải về với Đạo làm ǵ? Đạo nào lại
chẳng phải Đạo? Đạo nào cũng vậy, ai ia cũng xưng Chơn-Lư vậy. Vậy th́ làm sao
cho biết chắc mới có thể t́m mà về mà tuân cho!
Chúng ta mảng có tánh ích
kỷ đi hoài, cứ lo sợ mất cái sự sung-sướng xác-thịt đó nên bo bo tính lợi tính
hại, cho tới Trời nói ũng chưa đủ tin. sao chẳng xét chữ của trọn vế, coi coi
Trời nói làm sao, mới vừa nghe qua một câu mà đă vội bàn, vội so hơn tính
thiệt, nếu vậy mà gọi là về với Chơn-Lư là cái ǵ đâu mà vội xưng là Chơn-Lư;
chẳng thấy câu sao Trời nói rằng: "Trời khuyên Người
ráng tạo Quả-Nhơn", hễ tạo quả-nhơn
th́ được đến Bạch Ngọc Kinh, chắc-chắn trăm phần trăm, c̣n tạo
nhơn-quả th́ luân-hồi chịu lấy đừng trách.
Muốn biết quả-nhơn là chi, nhơn-quả là chi, th́ phải ráng nghe kỹ rồi
hiểu thêm lấy, chớ giấy vắn nghĩa dài, không lư viết cho hết được.
Một chữ
Nhơn nghĩa là Người,
là nhơn-loại nầy, là người ta đây, c̣n một chữ nhơn
nữa là cái nguyên-nhơn tại làm sao nên mới sanh ra có
cái kết quả thế nào; cũng như tại làm sao mà sang hèn, ấy là cái
kết-quả của cái nguyên-nhơn lớp trước, ấy là nhơn-quả
đó.
C̣n Quả-Nhơn lại nghĩa
khác. Quả-Nhơn nghĩa là Người đặng kết-quả rồi.
Hễ người nào đặng kết-quả rồi th́ người ấy được
chứng-quả rồi. Hễ công-quả rồi th́ được về
Bạch Ngọc Kinh rồi đó, có c̣n đâu ở dưới thế hạ nầy nửa mà tạo cái
mhơn-quả nà nữa đâu.
Bởi
Người là Con của Trời, Người Trời Một Thể Một Ngôi,
Trời sai chúng ta xuống thế-hạ nầy đây đặng lập xong
danh phận Tam Tài, hễ chúng lập xong hoàn toàn trách-nhậm rồi, th́ chúng
ta dặng chứng-quả, th́ chúng ta là Quả-Nhơn rồi, nghĩa
là: Người mà đă đặng kết quả y lời của Trời sai
rồi, vinh-vang chi bằng. Nếu không đặng kết-quả cho y theo lời Trời sai, mà
vẫn cứ bo bo lo giàu, lo nghèo, lo sang, lo hèn, lo bề nầy thế kia ích-kỹ cho
ḿnh th́ là tạo nhơn-quả đó, đời đời kiếp
kiếp luân-hồi theo cái nhơn-qủa của ḿnh đă tạo ra th́ chịu lấy, như vậy biết
bao giờ mà thành cho đến bực Quả-Nhơn.
Bởi cớ ấy nên Thầy mới lập Giảng-Đàn đặng qui con cái của Trời về môt
chỗ, chỗ Trung-Ương Thánh-Ṭa, đặng Thầy dạy cho chúng ta hiểu rơ Tôn-Chỉ v́
sao mà Trời mở Đạo, dạy cho chúng ta biết Đạo, cho biết Chơn-Lư và lập
Cao-Thiên-Đài thay thế cho Bạch-Ngọc-Kinh hữu-h́nh nơi thế-gian nầy cho chúng
ta rán lo mà tạo cho đặng Quả-Nhơn, đừng cho trôi-nổi linh-đinh bập-bều nữa mà
vương lấy nhơn-quả th́ chịu lấy. Hễ Con của Trời mà c̣n đường đời, vướng đường
đời, th́ làm sao cho khỏi nhơn-quả đặng.
Chúng ta là Con của Trời,
Trời dạy Trời khuyên, mà Trời cũng chẳng biết chúng ta không nghe đâu, v́ vậy
nên Trời nói: Trời biết chúng ta hay ngỗ-nghịch nên Trời khuyên phải rán. Hễ
Quả-Nhơn th́ đặng về Bạch-Ngọc-Kinh với Trời, c̣n ai không rán th́ chịu lấy.
C̣n nhữnh kinh-kệ cầu-siêu, cầu-hồn kia là
để dành cho những người không ráng đó, vẫn ỷ ḿnh biết, tưởng trăm ban vạn sự
ở chỗ đời nầy là cái tài hay tri-giác của ḿnh làm ra đặng, nên mấy lúc như
vậy khoe-khoan kiêu-ngạo, không biết không nhớ đến Trời. Một ngày kia lỡ-chơn
ruổi-bước, hoặc là bịnh-họan vô-phương rồi, khi ấy mới biết mới nhớ lại đến
Trời mà kêu, th́ dùng lấy kinh-kệ ấy đặng thức-tỉnh
linh-quang cho họ lại cho nhớ nguồn nhớ cội; mà nhớ hay quên, nhớ thiệt
hay nhớ giả, cũng đều tại nơi họ chịu rán hay không mà thôi, chớ chúng ta sao
biết được! Chúng ta có quả-quyết rằng dùng một vật nào đặng đưa cho họ về
Bạch-Ngọc được như mấy bọn sải dùng ngọn phan lá phướng rằng đưa họ được về
Tây-Phương.
Chúng ta có một cái hết ḷng cầu cho họ siêu mà thôi, chớ chúng ta có
làm chi được: Bởi những người như vậy cũng là Con của Thầy, nên Thầy phải để
lời nói của thầy lại cho chúng ta, nếu gập ai c̣n nhớ đến Trời th́ đam những
lời ấy ra mà nhắc-nhở lại cho họ, phổ-độ cho họ mau mau thức-tỉnh, v́ là lời
của Ông Trời để lại có lẽ họ mau nghe hơn. chớ chúng ta cũng là người như họ
vậy, cái lời nói của chúng ta là lời nói phàm thức-tỉnh ai nỗi, cái lời nói
nầy có một ai rủ-ren rù-quến làm việc phàm th́ mau lọt vào tai người phàm mà
thôi; v́ vậy nên Trời phải để lời nói của Trời lại mà thức-tỉnh cho ai là
người biết tội-lổi mà kêu đến Trời th́ Trời sẻ nhứt-định. Vậy chúng ta ai đă
chịu rán rồi, th́ hăy mau mau tạo cái Quả-Nhơn đi.
Muốn tạo cái Quả-Nhơn th́
phải làm thế nào cho được! Biết được th́ rán mới được chớ. Hảy xem câu sau th́
rơ.
Muốn rán cho được
chứng-vị quả-nhơn th́ nào có khó chi; "Trời
khuyên Công Quả chớ sờn". Đó, hăy ra công
đi, hăy rán công đi th́ được quả chớ có chi đâu lạ.
Làm sao gọi rán Công? Muống biết làm sao gọi rán Công th́ phải cho hiểu
chữ Công, chớ khônh phải đi làm công đó vậy mà gọi rằng công đâu.
Công nghĩa là việc chi làm phải ra sức, mà việc
nà ra sức làm cho được kia, mới gọi rằng là Công.
Hễ việc khó-nhọc ra sức làm cho được, th́ thấy nó có Công-Hiệu,
v́ vậy nên gọi là Công. Hễ có Công Hiệu th́ thấy có
Kết-Quả. v́ vậy nên gọi là Công-Quả,
chớ không phải như mấy anh đi đến chùa nói rằng công-quả đó đâu!
Hỏi mấy anh đó có ra sức
làm việc cho có cong-hiệu, cho có kết-quả hay không, mà gọi là Công-Quả? hay
là đến cho có mặt, cho có đếm đầu người đặng đếm ngày?
Ai có ra sức th́ được gọi là Công, mà ra sức cho có kết-quả mới gọi là
Công-Quả. Cũng chẳnh khác chi mấy người muốn cho có danh với đời. th́
phải ra sức học cho thành tài, ra sức thi khóa cho đậu, th́ mới có danh với
đời, người ấy là người chuộng vào công-danh đó,
không có ra sức làm sao có danh được.
C̣n chúng ta đều là người
tu-hành, muốn cho chứng quả đặng làm quả-nhơn nên phải ra sức vào việc tu-hành
cho có công đặng kết quả hết thảy.
Muốn ra sức đặng đáng đứng địa-vị gọi rằng công th́ nó c̣n phải có
nhiều bực tùy theo địa-vị của mỗi người phải làm, song le địa-vị nào cũng vậy
ḿnh phải tự ḿnh xét lấy, tùy theo tài lực của ḿnh miễn là ḿnh phải cho hết
sức của ḿnh mà thôi, miễn là có công-hiệu, th́ làm sao cũng có kết quả đặng;
mỗi người lo tṛn phận sự cho tṛn trách nhiệm của ḿnh th́ rán lấy cho có
hiệu-quả, hiệu-nghiệm đừng có sờn ḷng rủng chí nữa,
đừng thối-chí mà uổng công-phu công-tŕnh rồi mất công-đức, công-nghiệp,
công-dụng, công-năng, công-lực của ḿnh th́ khó gọi công-quả.
Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,
Trời khuyên người, ráng tạo quả nhơn;
Trời khuyên công quả chớ
sờn,
Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời.
Tự bấy nay đem thân ra gọi là đi tu mà cũng chưa hiểu tu là chi, nói
rằng đi công-quả làm công-quả, mà cũng chứ hiểu công-quả là ǵ. Nay nghe hiểu
rơ Công và Quả là hai việc, nghĩa là phải ra sức làm cho
có công-hiệu cho đặng kết-quả th́ mới gọi là Công-Quả, mà trong những
việc làm cho có công có quả đó, phải Nhứt-Tâm
gắn bó làm cho có kỷ-cang, đừng có sờn ḷng thối chí kỳ cho thấy đặng mới thôi
th́ cái quả kia mới thật là kết-quả cho.
Song le
đă đem thân ra gọi là người tu th́ việc đời không phải
là bỏ tuyệt như nhiều kẽ gọi rằng là bỏ đời theo Đạo vậy đâu. Người mà gọi
rằng là bơ đời th́ làm sao mà gọi rằng theo Đạo cho đặng?
Đời ấy ấy của ai dựng ra đó? Đạo nầy là của ai
tạo lập ra đây? Cũng đều là của Trời tạo ra cho cả thảy chúng sanh do nơi đó
mà lập cái thân nầy, mà nuôi lớn cái xác thân nầy, có lẽ nào bỏ bên nầy
đặng theo bên kia bao giờ. Người đi tu mà không có đời
th́ sao gọi rằng là đi tu cho đặng. Ai tạo lập ra, ai nuôi dưỡng, ai dạy dỗ
cái thân nầy cho có ra đây đặng mà đi tu, rồi đi tu gọi rằng là bỏ đời đi!
Người đă phụ răy đường đời có đáng gọi là Người Ta không? Không Người
sao có Ta? Không Ta sao có Người? Vậy th́ Đời với Đạo
cũng là Một, có Đạo mới nên Đời, có Đời
mới lập Đạo đặng. Vậy th́ người nào hiểu Đạo, người nà tuân Đạo,
người nào nh́n nhận rằng ḿnh là con của Trời, Người của
Trời sai xuống thế-gian nầy đặng lập cho xong danh phận Tam-Tài, th́
cũng phải biết rằng cả thảy thế-gian kia đều là vật cuả Trời, đều là anh em
ruột thịt một nhau rún với ḿnh mà có lẻ nào mà ḿnh bỏ đi mà theo Đạo nào? Có
Đạo nào dạy vậy đâu?
Đời thuộc về phần vật-chất. Đạo thuộc về phần
Thiêng-Liêng. Đời thuộc về xác thân, Đạo thuộc về Linh-Hồn. Đời là Người, Đạo
là Ta, v.v...
Có vật-chất mới có chỗ Thiêng-Liêng mượn mà hành
sự, có xác thân mới có chỗ cho Linh-Hồn tạm vào mà làm phận-sự; có Người mới
có kẻ giúp ta, vậy th́ Ta phải nhớ Người, Linh-Hồn phải cậy xác thân,
Thiêng-Liêng phải cậy vật-chất, hai vật nầy như h́nh với bóng, không
đặng thiếu sót, không đặng có vật nầy mà thiếu vật kia, nếu trong thân vật mà
thiếu đi môt vật th́ vật nào đó là vật chết rồi, vậy
đừng ai gọi rằng xă thân cầu Đạo mà lầm, đừng ai nói bỏ đời theo
Đạo mà hại, song le đă gọi là người đi tu rồi mà c̣n quyến-luyến hồng trần,
mê-mẫn theo đời th́ không đặng. Tuy biết rằng không đặng rời bỏ đời, nhưng
trong phần đời ấy c̣n phải có bốn phần liêng-cang,
dính-dấp, c̣n phải cho người đi tu phải nhớ đến hoài, phải lo đến hoài,
không đặng giây phút quên ơn bốn phần ấy.
Nếu gọi rằng là đi tu, mà
quên bốn phần ấy th́ làm sao gọi rằng là người đi tu cho đặng.
Bốn phần ấy là chi? Ấy là bốn phần gọi rằng là
đại ân-nhân của người đi tu đó, c̣n đương ở
nơi ṿng đời, chưa có rỗi-rảnh mà đi tu cho đặng. Nay
chúng ta đă đi tu rồi th́ phải lo phải nhớ đến bốn bực người đó lo về phần đời
nên chúng ta mới rảnh-rang đặng lo phần Đạo mới đặng. Vậy chúng ta phải
khắn-khích gắn-bó hoài hoài đừng quên bốn bực ấy mới gọi là người chân-tu.
Bốn bực người gọi là
ân-nhân ấy là ai? Là:
-
Cha
Mẹ
-
Chúng
Sanh
-
Người
Trị Nước
-
Người
đứng vào hàng Tam-Bảo
Bốn hạng người nầy c̣n có ở đường đời song có t́nh liên-lạc với chúng ta, nhờ
có bốn hạng ấy nên chúng ta đă đặng rảnh-rang phần đời mà đi tu v́ vậy gọi là
đại-ân-nhân chúng ta đó.
1. Phần thứ nhứt là Cha Mẹ, tuy trong ấy
gọi là Cha Mẹ song trong ấy gồm đủ cả ông bà cô bác thân
tộc họ hàng của chúng ta ở trong nầy khỏi giải cho tốn giấy, chắc anh
em tự nghỉ lấy cũng đủ hiểu.
2. Phần thứ hai là chúng-sanh. Bực nầy gọi
là đại ân-nhân của chúng ta đó. Hăy nghe kỹ xét kỹ mà cám ơn bực nầy cho lắm
đó. Nhơ có cái hạng chúng sanh trước mắt, chúng ta biết Đạo là quư, Đạo là
trọng, nên mới để ḷng vào t́m Thầy, t́m Chơn-Lư đặng thóat ṿng chúng sanh mà
vế với Đạo đặng, nếu không có hạng chúng sanh th́ chúng ta nào có biết lấy chi
làm gương, lấy chi gơi là cực khổ, lấy chi gọi là xấu-hổ đê-tiện, lấy chi gọi
là trấm luân đặng sợ đặng lo đặng t́m kiếm Đạo mà sửa ḿnh cho tấn-hóa đâu!
Nói tắc là nhờ chúng sanh đó họ làm gương xấu, gương
đê-hèn, gương quấy, gương tội-lổi, v.v... cho chúng ta ngó thấy mà tránh đặng
đừng co bước vào con đường đó là con đường phải bị luân-hồi đời đời
kiếp kiếp, nên chúng sanh đó là ân-nhân của chúng ta vậy.
3. Phần thứ ba là ơn người cai-trị nước,
cái ơn nầy không giảng ra chắc anh em cũng phải hiểu rồi,
nếu không có người cai-trị trong nước cho thái-b́nh th́
chúng ta làm sao mà tu cho yên, ơn nầy lớn biết bao.
Chớ nghịch mạng lịnh của người cai-tri nước, làm rối
loạn trật-tự của người cai-trị mà mang tội lổi với Trời. Rán nhớ cái ơn
nầy cho lấm lấm. Đừng tin càng tưởng vơ nghe theo lũ cḥm ông xóm kiến mà
nghịch Mạng Trời.
V́ người cai trị nước là có vưng lịnh của Trời sai mới
cai-trị một nước đặng. Nghịch mạng người cai trị là nghịch mạng Trời
đó. Dẩu cho người nào có Lịnh trên sai cai tri một xóm một làng cũng c̣n không
dám nghịch mạng người ấy thay, huống chi người cai trị một nước.
Ơn của người cai trị trong nước nặng nề lấm v́ phải đủ điều mà nuôi sống cho
cả nhơn dân, lo cho đặng thái-b́nh thạnh-trị, ơn ấy vô cùng là lớn. Phải để
ḷng mà nhớ ơn ấy hoài hoài, nếu quên th́ phải người gọi là tu theo Chơn-Lư,
không đặn gọi là con của Trời. Phải nhớ! Phải nhớ!
4. Ơn của người đứng vào hạng Tam Bảo. Tam
Bảo có nhiều hạng, phải cần giải nghĩa riêng mới rơ đủ. Đây xin giải một ạnh
sơ sơ danh hiệu vào bực chót bực thấp mà thôi. Sau có giờ rảnh sẽ giải thêm.
Người có ḷng dưng hương phụ trợ, phụ cấp cho chùa, v.v... đều gọi là người
đứng vào hạng Tam Bảo, v́ vậy nên mới có tiếng gọi của chùa là tam bảo đó, ai
đi dưng cúng cho chùa đều gọi là người tam-bảo. Vật chi cúng chùa đều gọi là
vật tam-bảo. Của trong chùa đều gọi là của tam-bảo. Ấy là về phần nhỏ nhít
hữu-h́nh đó, c̣n nhiều nữa, phần vô-h́nh nữa, phải cần có ngày giờ mới giảng
đủ.
Muốn thành đặng gọi là người tu-hành trưóc phải cho có công-quả, kế đó phải
nhớ khắn-khích bốn ơn mới đặng.
C̣n muốn cho đặng bực Phật như Thích Ca phải có Mười
Ơn mới trọn.
Huống chi chúng ta nay là người tu hành là học làm
Trời, phải cần ít nữa là trăm ơn, ngàn ơn,
muôn ơn cho khắn-khích, v́ vây nên Thầy mới có câu:
"Trời
khuyên phải nhớ bốn ơn chớ rời."
* *
*
Vế số
3
Trời đă dạy nhớ Trời-Độc-Nhứt,
Trời khuyên người tuyệt dứt phàm tâm;
Trời khuyên ráng học ráng làm,
Trời khuyên người chớ tin xàm tưởng vơ.
"Trời đă dạy nhớ
Trời-Độc-Nhứt"
Hỏi: Trong một câu nầy mà có hai chữ Trời, là v́ ư chi vậy? Trời nào đă
dạy đó? Đă có Trời dạy rồi mà c̣n lại dạy phải nhớ Trời nào nữa? Đă gọi rằng
Trời, mà lại c̣n gọi có "Trời Độc-Nhứt"
nữa! Nghĩa là "Ngôi Trời có Một không hai", nếu vậy chẳn là Trời có nhiều Ngôi
lắm hay sao? Bởi Trời có nhiều Ngôi nên mới có Ngôi Trời tương-đối, v́ có Ngôi
Trời tương đối nên mới có Ngôi tuyệt-đối, hễ có Ngôi tuyệt-đối nên mới có Ngôi
Độc-Nhứt vô nhị (có Một không hai); cũng như trong câu nầy mà phải có đến hai
Ngôi Trời hay sao? Có một Ngôi dạy đặng nhớ Ngôi Độc-Nhứt kia. Vậy th́ Ngôi
dạy nầy là ai? Cái Ngôi Độc-Nhứt kia là ai? Mà hễ nhớ cái Ngôi Độc-Nhứt kia
rồi, th́ cái Ngôi dạy nầy phải làm sao? Lại c̣n một phần nữa là: đă nói
Người là con của Trời, "Người
Trời một Thể một Ngôi": vậy chớ Trời đó lại là Trời nào nữa? Xét đi
xét lại, sao nghe Trời có nhiều quá vậy?
Đáp: Trời vốn có Một Ngôi chớ nào có
nhiều, Ngôi Một ấy là Ngôi Độc-Nhứt vô nhị, Chí Bửu
Chí Tôn vậy. Nhưng chẳng phải nói rằng có Một, rồi Một Ngôi đó trơ
trơ trọi trọi đó vậy gọi rằng là Ngôi Một đâu! Trời
là Sanh Hóa, Trời là sự Sống thiêng-liêng của că kiền-khôn vũ-trụ,
v́ vậy nên Trời không biết bao nhiêu mà đếm cho xiết. Tuy vẫn rằng nhiều, song
le trong những Ngôi ấy, tóm tắc lại có ba phần gồm trọn đủ cả thảy mấy trăm
vàng ngôi kia. Hiểu đặn Ba Ngôi nầy rồi, th́ c̣n phải thâu rút lại c̣n Một
Ngôi Một mà thôi, v́ có Một Ngôi Một nầy mới có Ba Ngôi
kia, có Ba Ngôi kia mới có Sanh Sanh Hóa Hóa ra muôn vàn Ngôi khác, bao
trùm cà kiền-khôn thế-giái mà đều đặng có sự Sống
như nhau. Cái Ngôi Một ấy là Ngôi Độc-Nhứt
vô nhị vậy; ấy là Ngôi Chí Bửu Chí Tôn đó, ấy là Ngôi tuyệt-đối đó.
Muốn biết sự Sanh Hóa của Ngôi Trời Độc-Nhứt, th́ phải hiểu câu Thánh Giáo bài
sơ-giảng học đường của Thầy đă giảng ra một tia Chơn-Lư ra cho chúng ta rồi.
Thầy đă dạy chúng ta suy kỹ nghiệm cang cho biết rồi, song v́ ḷng chúng ta
quá vọng quá lo ích-kỷ , quá lo tự tôn tự đại, nên đọc rồi bỏ qua, kẻ ỷ ḿnh
biết cửu cửu bất nhứt chi đó đem ra nói om-ṣm, rồi gọi ḿnh là giỏi; người
biết thái-cực lưỡng-nghi tứ-tượng bác-quái ǵ đó, rồi đem ra căi lẩy rầm rộ,
có kẻ lại nhứt nhi tam, tam hiệp nhứt, rồi bày dặt tam-gian hiệp-nhứt vấy vá
phá rối Đạo Trời, mạnh ai nấy căi, nấy chi phe phân phái, chớ nào có ai chụi
suy kỷ nghiệm cang như lời Đức Chí Tôn đă trân trọng dạy dỗ khuyên lơn đó đâu!
Hăy đọc lại cho kỹ và suy xét cho cùng, và hăy đọc Thánh-Huấn của Đức Phù-Hựu
câu "Người không lúa th́ Người dâu c̣n, cũng như
Trời không Người th́ Trời nào có; nhưng mà
lúa ấy phải nhờ có Người mới có, cũng như nhờ Trời mà ra
vậy."
Xin anh em lớn nhỏ, hăy rán suy nghiệm bài Thánh-Huấn sơ-giảng học-đường của
Đức Chí-Tôn cho kỹ, và dọc cho chín-chắn bài Hột Lúa của Đức Phù Hựu nơi ấy
cho tin tường rồi trước đi, khi ấy tôi và anh em sẽ trao đổi ư-kiến lại mà t́m
cho ra nghĩa-lư câu: "Trời đă dạy nhớ Trời Độc-Nhứt", đặng cho biết coi mấy
Ngôi Trời kia là Ngôi nào, c̣n Ngôi nào dạy đây, Ngôi Trời Độc-Nhứt là Ngôi
nào, Ngôi con cái của Trời ấy là ai, Ngôi hiệp-nhứt với Trời ở đâu, v.v... mà
t́m chớ, cho thấy Đạo của Trời.
Tôi chẳng phải chẳng chụi đem ư-kiến của tôi ra trước đây đặng giảng cho anh
em rơ. song câu Thánh-Huấn nầy, câu Trời đă dạy nhớ
Trời Dộc-Nhứt đây, ấy là một câu tóm tắt Con
Đường Chánh cho chúng ta phải biết mà t́m đó, ai chụi ra công khảo cứu
th́ thấy, bằng ai bỏ qua th́ chụi lấy.
Tự bấy nay, từ khi có bài sơ-giảng đến bây giờ, không thấy ai chịu suy kỹ
nghiệm cang như lời Thầy đă dạy, mà thầy là Đại Từ, Thầy cũng đă nhắc lại
nhiều lần rồi, như nhắc câu:
"Phải tin cậy Một Trời
Độc-Nhứt,
Phải ân cần tuyệt dứt phàm tâm"
hai
câu ấy có khác chí câu nầy dâu:
"Trời đă dạy nhớ Trời-Độc-Nhứt,
Trời khuyên người tuyệt dứt phàm tâm";
hai
câu vốn là Một, mà khác chỗ dạy thôi, v́ tứ bấy nay không ai chịu khảo-cứu,
tới ngày nay muốn đem ư kiến của tôi ra phô bày cho anh em xét, song nghĩ v́
lời Trời dạy anh em c̣n bỏ qua thay, huống chi là tôi nói mà ích chi với anh
em đâu!
Vậy cúi xin anh chị em, ai là người chịu độc chịu học, chịu suy kỹ nghiệm
cang, chịu tra xét lời Đức Phù-Hựu dạy, chịu đem ḷng t́m cho ra Mối Đạo, chịu
đem ḷng xét cho thấy ngọn đuốc Chơn-Lư, th́ khi ấy chúng ta sẽ hiệp nhau lại
mà trao đổi ư-kiến câu nầy mà thôi.
C̣n
nữa, mà chưa biết ngày nào,
C̣n
đợi bạn tri-âm sẽ khải khúc cầm Chơn-Như.
Đức Hổn-Ngươn Thiên-Sư Chưởng-Quản