Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản

Chơn-Lư Tầm Nguyên

Home Up Position Search

Chánh Tà Yếu Lư

 

Home
Up

 

The "Chánh Tà Yếu Lư" scripture shows the True Path as opposed to illusion. Seeking external power to control the mass via appeal to fear, greed and the ego self, is just illusionary.

Each human being is Divine Spirit connected to All and to the Universe as part of One. Every person has the true power of God Within. Awareness of this Oneness and of his true Divine nature will free him from the illusion of separation and from fear.

To walk on the True Path, one has to be true to himself and trust God Within. To follow the True Way, first quiet the mind, like the full moon on a clear and windless  night.

 

Bài Chánh Tà Yếu Lư được Hội Thánh Trung Ương ban hành năm Tân V́ (1931).

Đây là một trong những Thánh Huấn chánh của Nguồn Cội Chơn-Lư.

Ngày 7 rạng 8 tháng giêng Tân V́ (1931), Dồng-Tử Chơn Tâm cầu đặng tại Định Tường nửa đoạn đầu của bài Chánh Tà Yếu Lư. Ở Kiên-Giang, cùng giờ ngày đó, Đồng-Tử Tường Khánh thủ bút tiếp đặng nửa bài sau nối với Định-Tường tới cuối bài.

 

Chánh Tà Yếu Lư

Unicode

VNI font 

 

 

Thánh Huấn của Thánh Thất Kiên Gian:

 

Năm Cơi

 

Ḱa nhựt nguyệt đôi vừng luân chuyển,
Nọ ngũ hành u-hiển giao-thông;
Nào là Bác-quái, Cửu-cung,
Vạn thiên tinh tú trùng trùn bủa giăng.

Đạo có Một, một căn, một cội,
Chia làm ba mà mối cũng đồng;
Chữ rằng: Thiên Địa chí-công,
Họa nhơn ác tích, phước tùng thiện duyên.

Thành chánh-quả, hoặc Tiên, hoặc Thánh,
Phải trau ḿnh qui chánh, khử tà;
Trong trần bát vạn tà ma,
Đảo điên trước mắt nếu sa ắc lầm.

Tây phươngLôi-Âm Giáo-Chủ,
Huệ nhăn xem khắp đủ Năm-châu;
Xà-cừ, mả-năo, trân-châu,
Lưu-ly, hổ-phách, toàn cầu không hai.

Nam phương sẵn Kim-Đài, Ngọc-Khuyết,
Ngọc-Đế quyền định quyết Âm Dương;
Âm Dương Trời Đất kỹ-cương,
Hóa sanh vạn-vật phú cường lê dân.

Đông với Bắc phân vân Tâm Tánh,
Tiên chẳng tiên, Phật Thánh lương khương,
Quyền sai Đế-Thích chủ-trương,
Tùy theo thiện ác hai đường xử phân.

C̣n một cơi Hải-quần muôn khóm,
Phật xem dường một xóm yêu tà;
Để dành đày kẻ tinh ma,
Để dành đày đứa không Cha không Thầy.

Ta giải rơ công Thầy gầy dựng,
Đặng cho đời kỉnh Đấng Chí-Tôn;
Ḱa sao vực hóa nên cồn,
Ḱa sao biển nổi nên ḥn thinh thinh.

Cơi nhược-thủy, bồng-dinh chẳng lạ,
Nào phải là vượt quá Năm-Châu;
Hễ ai rơ đặng Đạo mầu,
Thiên đàng, Phật-quốc đâu đâu cũng gần.


Bài thứ nhứt giải phân năm cơi,
Bài thứ nh́ sẽ nói nguồn cơn;
Nầy câu Thánh-kệ giác chơn,
Dạy cho hiểu rơ căn dươn đầu bài.

Vây có kệ rằng:

Hỗn-độn xưa kia vốn một bầu,
Chia làm nhiều khóm, kể Năm-Châu;
Rộng Trời nên tách sông nhiều ngọn,
Gom mối chung về áo một bâu.
Ai sẵn kiếp tu, nghe nửa tiếng,
Người không ḷng chánh lóng ngàn thu.
Cạn xin đàn nội Nam ḥa Nữ,
Trai-giới nghiêm-minh sẵn chực hầu.


Thuần-Dương Chơn-Nhơn

(1929 - Kỷ Tị)

 

Thánh Kinh

Nhơn rảnh lúc bồ-đoàn tu luyện,
Khoá động thần dạo viếng Kiên Giang;
Thử xem phong cảnh trần gian,
Tứ dân, tứ thú, mùa màng năm nay.

Trời đă định cao dày như một,
Lục tràng bờ chẳng sót nơi nao;
Cảnh Tiên, Tiên gọi rằng cao,
Cảnh trần xem thấy ngạt ngào sanh linh.

Vậy mới biết hư, dinh, tiêu, trưởng,
Đều do quyền Giáo Chưởng Sư Tôn;
Khắp trong thế-giái kiền-khôn,
Đố ai qua khỏi cái khuôn của Trời.

Cám cỏi thế răo nơi cảnh Phật,
Dưng chút thành cho Đức Từ-Bi;
Trông xem Thánh-Thất Tam-Kỳ,
Vẽ-vang, tề-chỉnh, c̣n ghi đành rành.

Cảnh thiệt cảnh thanh-nhàn u-nhă,
Lại nhầm nơi điền-dă ph́-nhiêu
Lúa vui ngày Thuấn trời Nghiêu,
Người mừng ca trổi tiêu-thiều thánh-ngôn.

Xưa có chữ "Ngọc Côn, Kim Lệ",
Nay rơ ràng: "Lang-Quế Thành-Tâm";
Nào Trời có kém tăng rầm,
Khuyên người ǵn giữ quan-âm tất thành.

Dừng gót ngọc, xem rành Ngọc Bản,
Thấy rơ ràng: Nhơn, Giảng, Đài, Nghi;
Ḥa dương bính vị hềm chi,
Xui cho Kỷ Tị đô ty chưa thành.

Mừng dặng thấy chày ḱnh gióng tỉnh,
Khuyên chúng sanh tu-tĩnh kỳ-thân;
Trắng trong, trong trắng, trong ngần,
Kiêm-Liên, Ngọc-Tọa, có phần dành sau.

Rày ai chắc ngọc, thau, vàng, đá,
Sau tơ-tường: Kim-mả Ngọc-đường;

Mới hay Thánh-huấn chiêu-chương
Mới hay Thánh Thất đường đường âm-dung.

Vài vận mượn thanh-phong để tiếng,
Mười câu làm minh-kiển thần-chung;
Khuyên người: hiếu, để, tín, trung,
Khuyên người sau trước thĩ-chung một ḷng.

 

Thuần-Dương Chơn-Nhơn

(1929 - Kỷ Tị)





 

Home ] Up ]

Send e- mail to thanknguyen@hotmail.com with comments about this web site.
Last modified: March 29, 2005