Thánh-Huấn của
Thánh-Thất Kiên-Giang
Nhị-Thập-Thủ
Liên-Hườn
Ngọc-ngà châu-báu của
Trời ban,
Hoàng cảnh sao xem thấy
nhộn-nhàn,
Thượng-phẩm cung tường
ai dễ thấu,
Đế quyền đâu sái mảy trần-gian.
Các con lớn nhỏ thấy càng
thương,
Lắc lở gần đi muốn
lạc đường,
Tin cậy lời
ma sao sốt-sắng,
Ước ao
kinh Thánh lại lương-khương.
Gương trong chớ
để chi phơ phất,
Tơ trắng
đừng cho chút vấn-vương.
Một mảy ḷng sai mau sửa lỗi
Đừng cho trần
khí nhiễm đàn tràng.
Đàng tràng cao-thượng mới
vừa yên,
C̣n muốn mang lời với
Tán-Tiên,
Pháp Chuyển sanh đều may khỏi
dữ,
Ma cơ viện cớ
ắt không hiền.
Chanh-ranh bánh trước đà lăn úp,
Chợp-rợp xe
sau đợm ngửa-nghiêng,
Công việc muốn làm, làm chẳng
hỏi,
Khen cho măi măi để Thầy phiền.
Thầy phiền nào có ích chi đâu?
Vụng tính không ngừa việc
trước sau,
Thấy dại chẳng răn thêm
luốt-lát,
Bởi thương ít phạt lại
lau-chau.
Từ đây qui luật thêm nghiêm-ngặt,
Măi tới chương tŕnh cứ sửa
trau,
Chánh quả được thành cho
giáng bút,
Cấm đừng kẻ khẩn lại
ngưởi cầu.
Khẩn-cầu
ai có chứng cho đây,
Khéo sắm nề
cho quỉ phá chay,
Ruộng sẳn
tiền dư, toan phá của,
Mưa sa, nước
ngập, khó gieo cày.
Năm lừa bẩy
lọc, vừa mừng đấy,
Một lỡ
hai lầm gẫm xót thay.
Có chút ḷng thành
tua gắng sức,
Chớ sa nẻo
vậy, bỏ đường ngay.
Đường
ngay kỉnh Phật với thờ Trời,
Chớ thấy
thương rồi lại dễ-ngươi,
Một dạ
thành tâm quên gắn bó,
Trăm điều
ma quỉ dục tơi bời.
Gai chông án mặt
tua ruồng bỏ,
Đạo-Đức
ǵn ḷng mới thảnh-thơi,
Có chí
th́ nên lâu phải được,
Bồng-lai,
nhược-thủy, sức đua bơi.
Đua bơi
chi cái thú yêu tà?
Nước trí
non nhơn sẵn vốn ta,
Kinh kệ sân
vàng, ṿng Thái-Aát,
Mốc mưa bụi
đỏ báu Di-Đà.
Trăng trong, gió mát nào eo-hẹp,
Cội cả, nguồn sâu chớ bỏ
qua,
Tam-giáo dạy ṛng ḷng tín ngưỡng,
Có đâu Phật
Phật lại ma ma!
Phật ma, ma Phật
chẻ ḷng tin,
Yêu-quái ch́u theo sửa
tánh t́nh,
Đạo hạnh
nếu không già pháp tướng,
Ngươn-thần
hằng phải loạn danh-thinh.
Bồ-đoàn sớm
tối tiêu tiền nghiệt,
Bửu tọa
hôm mai giác hậu sinh.
Khờ dại
đáng thương, thương mới dạy,
Đố ai lấp
được mắt Thần-minh.
Thần-minh bất vị thói gian
hùng,
Lánh hé ngờ qua luật chí-công,
Aån bóng Tam-Kỳ, tuồng Đạo-Đức,
Bia danh Thượng-Đế,
bộ thung dung.
Chữa ḿnh mượn tiếng
đời ân xá,
Phỉnh chúng lầm
đường tội bất dung.
Lộng lộng lưới thưa
đâu dễ lọt,
Để cho đứa nịnh nhuộm
màu trung.
Trung thành can trực chẳng vơ quàn,
Mới được danh đồn
tiếng dậy vang,
Mạch nước báu dân ḷng sắt
đá,
Của chùa mối
Đạo dạ son vàng.
Tu tŕ chỉ nẻo khuyên đem lối,
Công quả t́m phương khá dẩn
đàng,
Sau trước một ḷng bồi cội
phước,
Thi ân dùm bọc
đứa cơ-hàn.
Cơ-hàn vấn-vít đứa hàn-vi,
Đời có từ tâm phải nghĩ
suy,
Bố thí nét son
bia Ngọc-bản,
Quả công sớ
trắng tấu đơn-tŕ.
Dẫu rằng
dưới thế không hay đó!
Chớ tưởng
trên Trời chẳng biết chi.
Nền thấp
phải bồi, bồi mới vững,
Ráng lo công quả
thất Tam-Kỳ.

Ngọc trắng lồng
Cung-Điện.
Hoàng danh vửng sắc-son,
Thượng thanh quyền Chủ-Tể,
Đế tọa vững sông non.
Tam-Kỳ hóa Đạo
chốn Kiên-Giang,
Nhơn thấy dày
công bước vững-vàng,
Khổ-hạnh luật
nghiêm theo phép Phật,
Trường-trai
Thầy chế lúc bua quan.
Hồi
hương động đến Như-Lai-Điện,
Ngọc quế
đồng vui Tổng-Cửu-Phang,
Trước đă
sẵn phê con thấy hiểu,
Nhơn công thiết
lập nhứt trai đàn.
Trai đàn c̣n hiếm
bực Chơn-Tu,
Dạy-dỗ
đem tai lóng chực hầu,
Phải mặt
danh hiền, danh phải chuộng,
Thêm người
Đạo-Đúc, Đạo thêm mầu.
Trưa chiều
công-quả Tam-Kỳ-Miếu,
Khuya sớm
hương-hoa Ngũ-Phụng-Lầu,
D́u dắt đoàn
em khuôn tánh-hạnh,
Trước sau cho
vững chí công-phu.
Công-phu bền-bỉ
bởi tiền-duyên,
Bính đắc kỳ
công thật đáng khen,
Ngũ nhạc mối
chia dầu sức rán,
Kiên-Giang gốc
chánh phải lo kiền.
Đứng đầu
trong họ bằng dời-đổi,
Nối gót theo ḿnh
phải đảo-điên,
Đâu quí cho bằng
quê đất tổ,
Chín mười cân
gióng giá Thiêng-Liêng.
Thiêng-Liêng
ung-đúc giá danh người,
Nghi chọc chi cho
Sóc nhạo cười,
Ngọc phải
trau-giồi người đức-hạnh,
Con tua bền-bỉ
chí tài bồi.
Nết vui tánh tốt
đời yên mến,
Đất béo nguồn
sâu cội tốt tươi,
Công quả c̣n non tua rán sức,
Tự nhiên mùi xạ gió đua hơi.
Gió đua hơi mát cảnh Cao-Đài,
Người đó chuông ḱnh khách vản-lai,
Nghe kệ tánh phàm khuyên sửa đổi,
Lóng kinh ḷng tục rán giồi-mài,
Vửng thân Đạo-Đức khuyên-lơn bạn,
Mang tiếng từ-bi tủi-hổ trai,
Bay nhảy phải noi gương chánh-đáng,
Ngựa hay nḥ biết sức đường dài.
Đường dài thâm thẫm lắm con ôi!
Biển sóng thuyền chinh chớ thả trôi,
Bảy liệu ba lo đừng lấp-lững,
Một vai hai gánh mựa lôi-thôi,
T́nh anh nghĩa bạn đền đâu phỉ,
Khế vợ nợ con trả chữa rồi,
Đă có ơn cho gương Quản-thược,
Chưng không bén đất chạy đền bồi.
Đền bồi phu phỉ nghĩa tào khương,
Niệm có nḥ ơn Đức Trước-Sơn,
Rạch-Giá nêu danh bia rực rỡ,
Sông Rồng để tiếng tạc quê-hương,
Thể-Liên đang buổi nghe kinh-sám,
Đồng-Tử nhằm cơn khóa học đường,
Nhắn-nhủ Kỳ-Phùng mau bủa cuộc,
Tam-Kỳ đường cả bước
bương-bương.
Bương bương cho kịp hội
Liên-Hoa,
Muôn kíp một kỳ thấy Thích-Ca,
Thế-giái mịt mờ cơn hỗn-độn,
Kiền-khôn điên-đảo buổi ta-bà,
Đồ Thơ
(1) bút tích Tư rồi Tám
(2),
Đạo giáo nguyên lưu Một
phải Ba (3),
Sóng gió khó ngừa thuyền Bát-Nhă,
Mở cho đường cả Tát-Ma-Ha.
Ma-Ha Ngọc-Đế cũng là Thầy,
Rộng mở Trời Nam ngấm cảnh đây,
Nhử cá mồi tôm đành đoạn dạ,
Bắt hùm bêu lợn nỡ nào tay,
Vạch đường chỉ ngơ ruồng gai gốc,
Quạt gió lồng sưong vén ngút mây,
Khờ dại lắm nên con phải nhọc,
Ôi thôi! nín miệng gượng làm
khuây.
Làm khuây làm lảng đặng làm gương,
Nào biết nơi nào chốn lửa hương,
Ôm-ấp cấp-ca đồ vật-chất,
Se-sua đua tính cuộc thương-trường,
Nghĩa-Nhơn chẳng thấm sưong đôi giọt,
Đạo-Đúc không đầy giấy nửa trương,
V́ lổi lầm nê Cha xá tội,
Các con lớn nhỏ thấy càng thương.
24 tháng 6 năm Canh-Ngũ (20-7-1930)
(1) Đồ-Thơ: Hà-Đồ, Lạc Thơ
(2) Tư rồi Tám: Tứ tượng, Bát quái
(3) Đạo Nguyên Bổn-Nhứt: gốc Đạo
rót cuộc rồi về có Một chẳng phải Ba.

Thể đức như gương chiếu
cỏi Trời,
Liên châu năm sắc rạng nơi
nơi,
Tiên phàm khuyên chớ đua hay giỏi,
Nữ kỷ nam cang rán chọn lời.
Đạo
Thầy huyền-diệu thấu sao cùng,
Thức tỉnh
người mê cơi Á-Đông,
Mở dạy Trung
Nguyên Ngôi Thái-Kiệt,
Rải
gieo Nam-Việt giống Thần-Nông.
Ngoài trong đen trắng
năm ba số,
Phải trái vàng
xanh một ít ṿng,
Đậm lợt
mỏng dày cao với thấp,
Hiểu
chăng hoặc có khách non-bồng.
Non-Bồng ai khiến
đến thày-lay,
Biết đó sao
chưa biết đặng đây,
Tiểu-Mụi núp
gương cam phận túy,
Đại-Bàn
phơi cánh ngóng Trời Tây.
Đừng rằng
cảnh Phật vui chuông trống,
Mà đón ḷng
người lướt gió mây,
Nầy thấy, nầy
chưa, nầy ướm hỏi,
Trầm luân mài-miệt
cuộc na say.
No say quên lửng
nhứt phi tam,
Thập bác nguyên
nhân nhị cửu hàm,
Trần tịnh trần
sa oai Phục-Hổ,
Điển
trừ yêu-nghiệt báu Già-lam.
Đạo cao
khuyên gắn công Ma-Niết,
Học quản tua
ǵn chữ Khiết-tham,
Người hỡi,
người ơi, người khá tỉnh,
Chớ
chia kẻ Bắc lại người
Người
Khuyên chớ trầm
trồ sự dở hay,
Hùm được
thêm oai nhờ sức gió,
Rồng
nên vẽ đẹp bởi ch́u mây.
Vô-biên vô-lượng
đành không dễ,
Bất kỵ bất
cầu mới thiệt hay,
Chín chín nạn
dư vừa thấy Phật (4),
Thấy
rồi rơ Phật ở
ḿnh đây.
Ḿnh đây nhiều
liếp biết tu hành,
Biết được
mau lo độ chúng sanh,
Nhơn quả trả
vay tuồng sóng lượng,
Công
danh thành bại bức mây tranh.
Cờ cao túng
nước mau xoay thế,
Nhà rộng Trời
khuya kịp điểm canh,
Áo bả hài gai
chuông tỉnh mộng,
Tài
t́nh khuyên kẻ mựa cành nanh.
Cành nanh quá lắm
ích chi đâu,
Tự cổ đồn
bia tiếng bể dâu,
Liên-lạc vướng
mành mưu chước nhện,
Oai
phuông tuông nọc thế thần sâu.
Đă sanh Người báu so Trời Đất,
Th́ để danh
lành sanh trước sau,
Sáu chữ Di-Đà
nguồn cội cả,
Học
cho thông suốt mối cơ-mầu.
Cơ mầu Thầy
mở dạy miền
Hào kiệt
khuyên mau lánh khớp dàm.
Gióng trống
giác-mê qua bể ngạn,
Rung
chuông khải ngộ đến Lôi-Am.
Hư-vô kiến Tánh noi Ca-Giáo,
Thanh-tịnh tu Tâm học Lăo-Đam,
Ḱa bến, nọ
bờ, đây lạc thổ,
Màu
nào xanh đặng lấn hơn chàm.
Hơn chàm đặng
thấy có Tam-Thanh,
Mà đặng cùng
không cũng tại ḿnh,
Đạo-Lư
Cao-Kiên lo chại cứu,
Công-tŕnh
Trung-Tín nỡ ngồi khoanh.
Minh-mông sóng khổ
đua ch́m đấm,
Chợp-rợp
trường tu thiếu học hành,
Dầu cạn,
đèn khêu, người ngáy giấc,
Chưa hay Trời
đă quá năm canh.
Năm canh chuông mơ
chẳng ngơi tay,
Khuyên nhủ anh em
dậy rửa mày,
Long Hổ Điển-Quang
vầy hiệp đó,
Thần Tiên Xá-Lợi
sẵn sàng đây.
Ngàn năm một
kiếp nên bồi bổ,
Mười tám
trăm đều chịu trở day,
Khôn dại đua chen chi nước bọt,
Thôi thôi ráo tiếng giả làm khuây.
Làm khuây đặng có nghỉ trong ḷng,
Hà-Lạc Đồ-Thơ số tứ tung,
Bắc đẩu chốt then sao chói rạng,
Tây phương h́nh dạng cơi Hư Không.
Vô-Vi ấy Đạo phi Chơn-Tướng,
Hửu-dụng cho người chiếm Hóa-Công.
Khuyên rửa Tánh phàm noi Thánh-Huấn,
Đạo Thầy huyền diệu thấu sao cùng.
17 tháng 9 năm Tân-V́ (1931)
(4) Chín chín: 9 x 9 = 81